Dâm dục giảm thọ_Hoàng đế nội kinh

Yellowemperor2.jpg

Hoàng đế nội kinh tố vấn là một trong Tứ đại kỳ thư của y học cổ truyền phương Đông, là cuốn sách nền tảng không chỉ của y gia mà còn của các nhà dưỡng sinh và võ thuật trong suốt mấy nghìn năm qua. Chương “Thiên chân luận” ghi lại lời vấn đáp giữa vị thánh quân thời thượng cổ là Hoàng đế và y sư thiên tài Kỳ Bá đã nêu rõ tác hại của dâm dục và căn bản của thuật dưỡng sinh.
(Xem tiếp trang 2)

Tụng quán bất tịnh trừ tà dâm

bất tịnh quán - kinhphapcu-8.jpg

“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

Ta ở trong chúng này, không thấy một pháp nào mà chưa có dục tưởng liền chẳng dục tưởngdục tưởng đã sanh liền có thể diệt; tưởng sân giận chưa sanh liền chẳng sanh, tưởng sân giận sanh rồi liền có thể tiêu diệt, tưởng thùy miên chưa sanh liền chẳng sanh, tưởng thùy miên đã sanh liền có thể tiêu diệt, tưởng trạo hối đã sanh liền có thể tiêu diệt, tưởng nghi chưa sanh liền chẳng sanh, tưởng nghi đã sanh liền có thể tiêu diệt, như là quán sát nhơ bẩn bất tịnh. Đã quán nhơ bẩn bất tịnh thì tưởng dục chưa sanh liền chẳng sanh, đã sanh liền có thể tiêu diệt; sân giận chưa sanh liền chẳng sanh, sân giận đã sanh liền có thể tiêu trừcho đến tưởng nghi chưa sanh liền chẳng sanh, tưởng nghi đã sanh liền có thể tiêu diệt. Thế nên, này các Tỳ-kheo, thường nên chuyên ý quán tưởng bất tịnh. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm 9. Một đứa con,
VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.102)

***

Đức Phật vì những chúng sanh tham dục mà  dạy quán bất tịnh, quán một thời gian lâu, tham dục liền trừ, có thể vượt qua sông ái, băng qua biển khổ. Tôi (pháp sư Tỉnh Am) rảnh rỗi đọc Đại trí độ luận, rồi nhân đó lấy ý, diễn thành kệ, để tự nhắc mình, đồng thời nhắc nhở thế gian.

A. QUÁN TƯỞNG CÁI CHẾT – LẦN I
1.jpg

Kệ rằng:

1-Quán tưởng cái chết:
Bao nhiêu luyến ái rồi cũng dứt,
Thân này xét kỹ được bao lâu,
Rơi lệ khóc người đều vô nghĩa,
Mấy ai quán xét tự ban đầu?

1b - Lâm chung.jpg

2-Quán xác chết trương sình:
Sinh thời bao dáng vẻ đẹp xinh,
Thoắt chốc thành thây thối trương sình,
Trước mắt những người đang son trẻ,
Mai sau có thoát được tử sinh?

2b - Tử thi trương sình.jpg

3-Quán xác chết với máu bầm xanh đen:
Da thịt đổi sang đỏ trắng vàng,
Máu bầm xanh tím vị tràn lan,
Hãy nhìn cho kỹ thân xác ấy,
Mới hôm nào y phục xênh xang?

3b - Tử thi chảy máu mủ.jpg

4-Quán xác chết hư hoại:
Da thịt ôi thôi vữa nát rồi,
Tim gan phèo phổi lộ ra thôi,
Nếu người sáng suốt như thật quán,
Tham luyến gì trong đống thịt hôi?

4b - Tử thi thối rữa

Quán xác chết máu ứ tanh hôi:
Dung nhan tươi đẹp đã mất rồi,
Tử thi đầy máu ứ tanh hôi,
Dù muốn nhìn quan phân đẹp xấu,
Cũng chỉ mơ hồ một dáng thôi.

5b - Tử thi bị ròi đục.jpg

5-Quán xác chết thối rữa chẩy mủ:
Xác người thối rữa khó nhìn thay,
Nồng nặc tanh hôi muốn tránh ngay,
Ngờ đâu thân xác hôi tanh ấy,
Đã từng son phấn biết bao ngày.

6b - Thú hoang kéo đến

6-Quán xác chết bị các loài thú xâu xé:
Chim thú chia nhau bữa thịt người,
Người từng ăn chim thú suốt đời,
Ba tấc hơi ngừng người với thú,
Cũng đều thối rữa trắng xương phơi.

7b - Thú hoang ăn tử thi

7-Quán xác chết tan rã:
Người chết hình hài cũng rã tan,
Tứ chi xương cốt vãi tràn lan,
Xét kỹ hình dung xưa đẹp đẽ,
Giờ biết về đâu giữa mênh mang?

8b - Tử thi rơi rụng từng mảng.jpg

8-Quán xương trắng:
Xương trắng nằm trơ giữa quoạnh hưu,
Khi còn đi lại ngỡ yêu kiều,
Nhưng dáng yêu kiều xưa là giả,
Vẻ thật ngày nay có đáng yêu?

9b - Chỉ còn xương trắng.jpg

9-Quán xác chết hỏa thiêu:
Hừng hực bốc cao ngọn lửa hồng,
Di hài bỗng chốc đã hóa không,
Hãy nhìn đám khói bay lên đó,
Có thể khời lòng tham luyến không?

Hoa tang

10-Quán tro cốt tiêu hoại hết:

9 - Tất cả chỉ còn cát bụi hư vô.jpg

Trên đây chỉ nêu sơ lược điểm cốt yếu của các phép quán, khi người tập đã quen thì bước sang giai đoạn quán tưởng một cách chi tiết và sát thực hơn (nên tập từ dễ đến khó để tránh tinh thần khỏi kinh hãi).

B. QUÁN TƯỞNG CÁI CHẾT – LẦN II
(Sau khi quán lần I quen mới quán lần II, nếu thấy kinh sợ thì tâm niệm danh hiệu A Di Đà Phật sẽ được định tâm)

DS062

Kệ rằng:

Người thân yêu nay vĩnh biệt rồi
Mắt nhìn chẳng lỡ, dạ bồi hồi
Thần thức vừa lìa ra khỏi xác
Di thể nhập quan khóa chặt thôi

Đêm khuya nhà trống đèn leo lét
Gió thu chớm lạnh hắt từng hồi
Khuyên ai đang lúc còn sinh lực
Sớm tỉnh tâm quán lúc lìa đời

1-Quán xác chết trương sình:
Hơi dừng thân lạnh khí phát sinh,
Thi hài thoắt chốc đã trương sình,
Thi thể căng phồng như túi nước,
Bụng như dưa héo nhìn phát kinh,
Nước rỉ từ thân bao nhơ nhớp,
Ruồi nhặng đua nhau đến rập rình,
Một lớp da che không sớm biết,
Lầm lạc bao năm đáng hận mình!

12049360-849110281869687-5768054316744635704-n_01.jpg

cfd25ae5829eb11198a26ca3b3bf36b4

2-Quán xác chết với máu bầm xanh đen:
Thây phơi nắng gió dãi vài phen,
Màu sắc chuyển sang vàng xanh đen,
Da khô vữa nát rơi từng mảng,
Xương cốt nửa phần cũng rã tan,
Tai mũi giờ đây thành hốc lõm,
Dây gân từng đoạn đứt ngổn ngang,
Ví như tượng đá thường câm lặng,
Nhìn cảnh thê lương cũng lệ tràn!

23

26

3-Quán xác chết hư hoại:
Da bọc quoanh thân vừa rơi rã,
Hình thể liền tan nát xót xa,
Bụng như dưa nứt bày gan ruột,
Dòi bọ tự trong khoét đường ra,
Dây khô vô tình quấn tóc rối,
Rêu ẩm mọc lan nát lụa là,
Nhắn gửi người đắm mê hình sắc,
Thôi đừng tu niệm túi phân da.

33.jpg

4-Quán xác chết máu ứa tanh hôi:
Trơ trơ nằm đó khối máu đông,
Ngàn năm bất động người còn không,
Bê bết nằm trong lùm cỏ dại,
Ngổn ngang bụi đất cũng ố hồng,
Còn đâu ảo tưởng phân đẹp xấu,
Đâu kẻ nam nhi khách má hồng,
Đáng thương kẻ mê nơi mắt thịt,
Nhận giả làm chân mãi chạy rông.

dead-body-1

5-Quán xác chết thối rữa chẩy mủ:
Da mỏng bồi giấy rách khác chi,
Thịt thối canh thui càng đổ đi,
Mủ máu hôi tanh từ trong rỉ,
Ruồi nhặng tranh nhau rúc tử thi,
Như kẻ ăn lòng lợn nôn mửa,
Như người tắm chó nước sạch chi,
Nếu không ghê tởm thấu xương tủy,
Làm sao dứt được khối tình si.

28

6-Quán xác chết bị các loài thú xâu xé:
Xác quẳng ra muôn loài xâu xé,
Có phần nào còn được vẹn nguyên,
Chẳng đủ no lòng bao quạ đói,
Chưa hết cơn thèm lũ chó điên,
Ngày nay đang sống không tự liệu,
Lúc thân tàn ai kẻ tương liên,
Khi ấy không bằng loài dê lợn,
Thịt chúng còn mang bán được tiền.

phu-nu-today-tuc-mai-tang-kinh-di-3

7-Quán xác chết tan rã:
Thịt xương bỗng chốc rã tan mau,
Thân người chẳng biết theo về đâu,
Nào chỉ dung nhan hình thể mất,
Cho đến tuổi tên cũng còn đâu,
Mấy khóm cỏ thu đời dài ngắn,
Thịnh suy xin hỏi gió qua cầu,
Người ơi xin hãy xem xét kỹ,
Ngọn nguồn sinh tử khởi từ đâu?

3839 (1)

8-Quán xương trắng:
Da thịt giờ đây rã tan rồi,
Chỉ còn xương trắng nằm trơ thôi,
Gió mưa thêm đổi màu rêu mốc,
Nước tràn in dấu đất tinh khôi,
Trùng kiến không mời thường kéo đến,
Cháu con mong ngóng vắng xa rồi,
Phong lưu một thủa giờ đâu nữa,
Một mối sầu ôm hồn chơi vơi.

dead-body-3

9-Quán xác chết hỏa thiêu:
Xương khô lửa dữ quện vào ngay,
Phút dây cuồn cuộn ngút trời mây,
Hừng hực lửa hồng thiêu trời đỏ,
Ngùn ngụt khói đen phủ ngọn cây,
Vọng niệm theo tro tàn tiêu tán,
Chân tâm như mặt nhật hiển bầy,
Muốn thoát luân hồi vượt sinh tử,
Phải tinh cần tu phép quán này!

nhung-bi-mat-ben-trong-lo-hoa-than

Các khổ đều từ tham dục khởi,
Từ đâu dục khởi biết chăng là?
Do quên tự tánh Di Đà Phật,
Dị niệm lăng xăng trọn hóa ma!

(Hết)

Nguyện lâm chung xả thân bất tịnh
Cõi Cực Lạc liên hoa hóa sinh
Diện kiến Di Đà cùng Thánh chúng
Mười phương thế giới độ chúng sinh!
Nam mô A Di Đà Phật!

PMNP

Ni sư Thích nữ Liên Phương vãng sinh ngày 17/7/2015

Sư cụ Thích nữ Liên Phương thế danh Nguyễn Thị Ngày, sinh năm 1933 tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

Khi chưa xuất gia, cụ làm nghề bán bánh hỏi chay (1) lặn lội thân cò trong cảnh bần hàn nuôi đàn con thơ.Cụ có 5 người con: 4 trai, 1 gái. Hai con trai của cụ xuất gia là đại đức Thích Giác Nhàn và đại đức Thích Trí Thạnh. Đại đức Thích Giác Nhàn thường về thăm nhà, khuyên cụ chăm chỉ tu hành.

Năm 1995 cụ xuất gia với sư bà Hải Triều Âm tại tu viện Hương Sen, được ban pháp danh là Thích Nữ Liên Phương, 12 năm tu tập tại tu viện cụ luôn giữ giới tinh nghiêm, tu hành tinh tấn, thường thức khuya dậy sớm niệm Phật.

Năm 2007, cụ về tu tại tịnh thất Quán Thế Âm, khi đó tịnh thất còn hoang sơ. Chủ nhật hàng tuần đại đức Thích Giác Nhàn thường thuyết giảng nên đạo tràng dần trở nên đông đúc, cụ cũng tham dự các buổi thuyết giảng cùng đại chúng. Cụ chưa bao giờ bỏ một thời khóa tu tập nào, mỗi thời khóa cụ thường đến niệm Phật trước đại chúng nửa giờ kể cả những thời khóa vào nửa đêm và sáng sớm cũng không ngoại lệ.

Năm 2012, khi đã 79 tuổi cụ vào Viện chuyên tu. Tuy lớn tuổi và sống một mình nhưng cụ vẫn tinh tấn tu tập và tự chăm lo sinh hoạt hàng ngày như: giặt giũ, nấu ăn, may vá mà không cần người giúp. Đại đức Thích Giác Nhàn thường đến động viên cụ, cùng cụ đi kinh hành niệm Phật trong khuôn viên viện chuyên tu. Những ngày lễ lớn cụ vẫn đến tịnh xá Quán Thế Âm tham dự cùng đại chúng, mỗi chủ nhật cụ thường thúc giục đại đức mau lên giảng đường đừng để mọi người chờ lâu. Có một lần, khi đang niệm Phật cùng đại chúng cụ bỗng nghe thấy tiếng niệm Phật ở cõi Tây Phương và thấy Phật A Di Đà hiện ra trước mặt nên càng tinh tấn niệm Phật (2). Khi đại đức Thích Giác Nhàn đi hoằng pháp, thày có qua thăm cụ nhưng cụ không hề lưu luyến, lại còn khích lệ thày nên vì chúng sinh mà tích cực hoằng truyền pháp môn Tịnh độ.

Thời gian về sau, cụ có chút bệnh, sức khỏe yếu hơn nên cần người chăm sóc. Tuy vậy ngoài lúc ngủ thì cụ niệm Phật luôn, mỗi bữa cụ ăn một chén cơm và không uống sữa, cụ nói cụ muốn vãng sinh Cực Lạc, giờ cụ không uống sữa nữa nhưng da mặt vẫn hồng hào như người khỏe mạnh. Chân cụ bị đau, bác sĩ nói bình thường bệnh này ở người trẻ tuổi sẽ rất đau đớn và khó chịu nhưng cụ vẫn luôn vui vẻ không giống người ốm bệnh.Trước khi vãng sinh vài tuần, cụ bỗng hỏi mọi người về ngày tháng và dặn dò mọi người rất cụ thể về việc hậu sự.

Ngày 15/7/2015, trước khi vãng sinh hai ngày, đại chúng chia ca hộ niệm cho cụ, cụ vẫn rất tỉnh táo và vui vẻ.

Ngày 17/7/2015 sức khỏe cụ yếu hơn nên mọi người tập trung hộ niệm. Một số  hộ niệm trong phòng và một số niệm Phật ngoài hành lang. Đại đức Thích Giác Nhàn khi đó đang ở Mỹ đã điện thoại hình ảnh trực tuyến về đạo tràng hướng dẫn hộ niệm cho cụ. Thật kỳ lạ, trước khi trút hơi thở cuối cùng, cụ vẫy tay chào mọi người rồi ra đi nhẹ nhàng trong tiếng niệm Phật. Điều này cho thấy cụ đã tỉnh táo minh mẫn đến hơi thở cuối cùng.

Đại chúng tiếp tục niệm Phật hộ niệm thêm 10 tiếng và đại đức Thích Giác Nhàn vẫn tiếp tục khai thị cho cụ qua điện thoại. Sau khi kiểm tra, toàn thân cụ lạnh, hơi ấm tụ lại ở đỉnh đầu, khuôn mặt an nhiên. Đại chúng tiếp tục trợ niệm, khi được 24 giờ, đại đức Thích Giác Nhàn tiếp tục khai thị cho cụ qua điện thoại và kiểm tra thoại tướng thì toàn thân cụ mềm mại, các khớp đều dẻo tự nhiên, thoại tướng rất đẹp. Khi còn sống, cụ đã có ước nguyện khi vãng sinh sẽ để lại một thoại tướng thật đẹp làm biểu pháp cho mọi người tăng trưởng tín tâm do vậy đại chúng rất vui mừng.

Cụ đã vãng sinh Tây Phương Cực Lạc vào hồi 17h10 phút ngày 17/7/2015 (ngày 2/6 Âm lịch năm Ất Mùi).

Nam mô A Di Đà Phật!

Chú thích:

(1) Bánh hỏi là một món ăn đặc sản phổ biến tại Vũng Tàu, Bến Tre, Phú Yên, Nha Trang, Bình Định. Bánh được làm từ bột gạo và có quy trình chế biến công phu, tỉ mỉ. Bánh hỏi là món ẩm thực không thể thiếu trong những dịp lễ, cúng giỗ, cưới hỏi, lễ cúng ở đình, chùa của người dân. Đây vốn là bánh mặn nhưng cụ sớm giác ngộ nên chỉ làm bánh chay.

(2) Cụ nghe thấy tiếng niệm Phật ở Tây phương và thấy Phật A Di Đà, tướng Tây phương hiện ra báo hiệu sự vãng sinh.

Lotus+Lamp

 

Tam tịnh nghiệp

Đức  Ban su Phat Thich Mau Ni The Ton Nhu Lai

Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thích Ca Mâu Ni Phật dạy thiện nam, tín nữ muốn vãng sinh Tịnh độ phải tu Tam phúc hay Tam tịnh nghiệp, đó là:

(1) Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiệp;
(2) Thọ trì tam quy, cụ túc chúng giới, bất phạm oai nghi;
(3) Phát tâm Bồ đề, đọc tụng đại thừa, tin sâu nhân quả, khuyến tấn hành giả.

Ba phúc báu này cũng chính là tiêu chuẩn để trờ thành “thiện nam, tín nữ”. Xin trích bài giảng của Hòa thượng Tịnh Không về Tam tịnh nghiệp:

1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không sát hại, tu mười thiện nghiệp

a. Hiếu dưỡng cha mẹ: Điều này, tôi giảng rất nhiều lần, chúng ta học kinh không thuộc và không hiểu ý nghĩa của kinh rõ ràng, tâm hạnh trái với lời dạy trong kinh dạy; đây là đại bất hiếu vì không cung kính, chúng ta cần phải biết rõ.

b. Phụng sự sư trưởng: Chúng ta là người học Phật, vị thầy đầu tiên là Đức Phật Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni. Đức Bổn Sư dạy chúng ta học theo Phật A-di-đà nên Đức Phật A-di-đà cũng là Bổn Sư của chúng ta. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta khởi tâm động niệm, tâm mình có giống như tâm Phật không? Suy nghĩ có giống như Phật nghĩ không? Làm thế nào giống như tâm Phật, nghĩ như Phật? Những điều này, trong kinh Vô Lượng Thọ, kinh A-di-đà nói là tâm chân thật của Phật, là mẫu mực của Phật. Chúng ta có thật sự hiểu không? Có thật sự tinh tấn tu hành không?

Tu hành là dựa theo tiêu chuẩn Đức Phật dạy, chúng ta phải sửa đổi cách nghĩ, cách nhìn sai lầm của mình trong cuộc sống hằng ngày thì gọi là tu hành. Nếu như hằng ngày chúng ta làm ra vẻ như người học Phật, nhưng trên thực tế thì lừa mình dối người, như thế nhất định có cảm ứng với ma, ma sẽ đến hộ trì cho bạn mà không phải là Phật. Dụng ý của ma đến hộ trì bạn để làm gì? Để chúng hủy diệt Phật pháp và gây chướng ngại cho Phật pháp.

Chẳng những ngay trong đời này bạn không được tự tại, không được như ý mà quả báo đời sau lại càng đáng sợ. Chúng ta có ý thức được điều này không? Chúng ta có cảnh giác không? Cho nên tôi thường khuyên các vị đồng tu, cơ duyên của chúng ta thù thắng không ai bằng, nếu trong chốc lát mất thân người bị đọa vào ba đường ác thì thật là đáng tiếc, nói ra thật khó nghe, thật rất oan uổng!

Vì thế, nền tảng của Phật pháp, căn bản của căn bản là ‘hiếu kính’, nghĩa của hai chữ hiếu kính này rất rộng lớn. Hiếu kính với tất cả chúng sinh, đó là học Phật. Nếu chúng ta làm được việc hiếu kính đối với tất cả chúng sinh, như thế thì chúc mừng bạn rồi, chẳng những bạn ra khỏi luân hồi mà còn thoát ra khỏi chín pháp giới. Bởi vì, chân thật hiếu kính tất cả chúng sinh chỉ có pháp thân Bồ-tát mới làm được. Kinh Hoa nghiêm nói: “Sơ trụ Viên giáo trở lên mới thực hành được”. Do đó, không thể không phát tâm này, sau khi phát tâm này rồi cần phải thật sự nỗ lực thực hành, quyết tâm làm cho được.

c. Từ tâm không sát hại: Trong các tội nghiệp, hành vi sát sanh là tội nghiệp nặng nhất; cho nên, Đức Phật tổng hợp trọng tâm của giới luật dạy cho chúng ta “lòng từ không sát hại”. Trong đạo Phật thường nói: “Từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa”. Chúng ta phải vun bồi tâm từ bi, tuyệt đối không được sát hại, cho đến làm tổn hại tất cả chúng sinh. Người không có tâm từ bi thì không thể học Phật, làm tổn hại chúng sinh thì nhất định sẽ gây kết oán thù rất nặng; do đó mà có những oan gia trái chủ báo thù lẫn nhau không dứt.

d. Tu mười thiện nghiệp: Người giác ngộ tuyệt đối không được kết oán thù với chúng sinh. Một khi kết oán thù với chúng sinh đều là do mê hoặc điên đảo, bị vô minh phiền não che lấp. Vì thế, chúng ta phải tu mười thiện nghiệp, đây là nền tảng của sự tu tập, chúng ta đem nó áp dụng vào cuộc sống thường ngày, tiêu chuẩn đều là lời dạy trong kinh luận, từ nền tảng này chúng ta bước vào cửa Phật.

2. Thọ trì tam quy, đầy đủ các giới, không phạm oai nghi.

a. Thọ trì tam quy: Chúng ta bước vào cửa Phật, trước tiên phải thọ Tam quy y. Đây là điều Đức Phật dạy cho chúng ta ra khỏi sáu đường luân hồi, mục tiêu là hướng đến Bồ-đề Niết-bàn gọi là Tam bảo. Tam bảo là Giác, Chánh, Tịnh. Bất cứ nơi nào, lúc nào chúng ta vẫn luôn luôn giữ tâm giác ngộ của mình. Giác là không mê, xưa nay chúng ta chỉ mê mà không giác, ngày nay quay đầu lại gọi là “trở về”, quay đầu thì cần phải quy y “giác mà không mê”.

Đức Phật lại dạy, do chúng ta chấp vào tri kiến và cách nghĩ, cách nhìn sai lầm nên phải quay đầu lại, nương theo chánh tri, chánh kiến. Tri kiến như thế nào gọi là chánh? Chư Phật, Bồ-tát hoàn toàn không nói: “Tri kiến của ta là chánh tri, chánh kiến, còn tri kiến của các ông là tri kiến sai lầm”. Không có Phật, Bồ-tát như thế.

Các ngài dạy: “Tri kiến tương ứng với tự tánh là chánh tri, chánh kiến; tri kiến trái với tự tánh là tà tri, tà kiến”. Cách nói như thế, chúng ta mới khâm phục; bởi vì, chúng ta chưa minh tâm kiến tính nên phải thừa nhận cách nhìn, cách nghĩ của chúng ta đều là sai lầm. Cho nên, khi mới học Phật chúng ta không thể không nương theo Đức Phật, nhưng Phật lại dạy rất hay là chúng ta không thể nương theo Ngài mãi mãi mà chỉ có thể nương theo một thời gian. Sau khi, chúng ta minh tâm kiến tánh thì không cần nương theo Ngài nữa; trước khi chúng ta chưa kiến tánh mà không nương theo Ngài thì chẳng còn phương pháp nào tốt hơn được.

Vậy được minh tâm kiến tánh có dễ không? Là phải đoạn trừ phiền não, phá phiền não chướng. Phiền não gây chướng ngại cho tự tánh của chúng ta. Bạn còn phiền não thì nhất định không thể nào kiến tánh được, vẫn phải tu học theo pháp môn. Tu học theo pháp môn cũng là phá sở tri chướng, vì sở tri cũng làm chướng ngại tự tánh. Trừ sạch hai chướng ngại lớn này thì mới minh tâm kiến tánh.

Chúng ta nói điều này thì rất dễ dàng, nhưng thực hành thì rất khó; cho nên, Đức Phật dạy hàng phàm phu chúng ta còn bị nghiệp chướng này sâu nặng, căn tánh của phàm phu ám độn chỉ có phát nguyện cầu sinh về Tịnh độ. Phương pháp này rất tuyệt diệu, có thể tạm thời không cần đoạn Kiến, Tư phiền não mà vẫn vãng sanh về Tịnh độ, cũng không cần tu học vô lượng pháp môn; chỉ cần đầy đủ ba điều kiện Tín, Nguyện, Hạnh thì được vãng sanh về thế giới Tây phương Cực Lạc diện kiến Phật A-di-đà, sau đó nỗ lực học với Ngài. Về cõi này chúng ta tu đoạn phiền não, lại học pháp môn thì đạt được cứu cánh giải thoát viên mãn.

Do đó, khi thọ trì tam quy, chúng ta phải quy y Phật A-di-đà và nương theo kinh điển Tịnh tông. Kinh điển Tịnh tông hiện nay chỉ có năm bộ kinh[2] và một bộ luận Vãng Sinh. Nếu bạn quy y theo hết các kinh luận này thì rất tốt, còn như chê nhiều thì trong sáu bộ này, bạn chọn bất kỳ một bộ nào để thực hành cũng được. Có lẽ sẽ có người hỏi: “Một bộ thì có ít quá không?”. Chúng ta đọc Vãng sinh truyện hay Tịnh độ thánh hiền lục thấy từ xưa đến nay có rất nhiều người ngay một bộ kinh cũng chẳng biết, suốt đời chỉ biết niệm một câu A-di-đà Phật mà họ vẫn có thể đứng vãng sanh hay ngồi vãng sanh.

Niệm một câu hiệu A-di-đà Phật còn thành tựu được, huống gì một bộ kinh? Chúng ta phải tin việc này chân thật, như trong kinh Kim cang nói: “Tín tâm chẳng trái nghịch” thì mới có thể thành tựu.

Tăng bảo là chúng ta quy y bồ-tát Đại Thế Chí và bồ-tát Quán Thế Âm. Chúng tu ta theo Tịnh tông, quy y Tam bảo thực tế là trên sự tướng. Đại Thế Chí biểu hiện lý trí chẳng phải tình cảm; Quán Thế Âm biểu hiện từ bi. Cho nên, chúng ta quy y Tăng là quy y từ bi theo lý trí chẳng phải từ bi theo tình cảm; từ bi theo tình cảm là việc không tốt. Từ bi phải lấy lý trí làm nền tảng, được như thế mới gọi là thọ trì tam quy.

b. Đầy đủ các giới, không phạm oai nghi: Chúng ta có thể giải thích giới là những giới điều mà Đức Phật đã dạy trong tất cả kinh điển mà chúng ta tuân thủ, nhưng không phải chấp chặt những giới điều. Chúng ta phải xem kỹ những giới điều trong kinh dạy, tất cả giới điều đều bao hàm trong đó, không hề thiếu sót. Từ trên nền tảng này mà khế nhập vào pháp môn của Bồ-tát.

Pháp đầu tiên của Bồ-tát là phát đại tâm, phát Bồ-đề tâm. Chúng ta muốn vãng sanh về thế giới Tây phương Cực Lạc phải nhớ kỹ trong kinh Phật giảng, điều kiện để chúng ta được vãng sanh có hai câu tám chữ. Tam bối vãng sanh trong kinh Vô Lượng Thọ nói bất luận là thượng bối, trung bối và hạ bối đều không khác nhau, đều là “phát Bồ-đề tâm, nhất hướng chuyên niệm”.

Thế nào là phát tâm Bồ-đề? Là tâm độ khắp chúng sinh, “chúng sinh vô biên thệ nguyện độ”. Nếu như bạn ghét chúng sinh này, thích chúng sinh kia thì bạn có đến được thế giới Tây phương Cực Lạc không? Chắc chắn là không thể đến được, cho dù mỗi ngày bạn niệm mười vạn câu danh hiệu Phật, niệm một vạn tiếng danh hiệu Phật, bạn cũng không thể vãng sanh được. Vì sao? Vì bạn không có tâm Bồ-đề; điều này không thể không chú ý.

Trước đây thầy Lý[3] thường nói người ngày nay niệm Phật, một vạn người niệm Phật khó có được hai, ba người vãng sanh. Không phải họ không tinh tấn, suốt ngày xâu chuỗi chẳng rời tay, từ sáng đến tối miệng không ngừng niệm A-di-đà Phật, A-di-đà Phật, nhưng vì sao họ không vãng sanh được? Vì họ không phát tâm Bồ-đề nên không phù hợp tiêu chuẩn vãng sanh. “Nhất hướng chuyên niệm” thì họ làm được, nhưng “phát tâm Bồ-đề” thì họ không làm được, do đó họ không thể vãng sanh.

Hôm qua Quán Trưởng nói chuyện với tôi về Khổng Lão Phu Tử. Đức học của Phu Tử có từng giai đoạn rất rõ ràng, đây là tấm gương tốt cho chúng ta. Lão Phu Tử nói “Tam thập nhi lập”. Lập cái gì? Lập chí hướng! Lập chí theo nhà Nho nói giống như Phật pháp của chúng ta nói phát tâm. Phu Tử lập chí là chí đối với sự học, suốt đời theo nghiệp học vấn. Hôm nay chúng ta lập chí là độ khắp chúng sinh, chúng sinh vô biên thệ nguyện độ, chúng ta đích thực lập chí này. Bốn hoằng thệ nguyện là lập chí, chúng ta có thật sự lập được không?

Nhà Nho nói nếu không lập chí thì việc gì cũng không thành tựu được. Vì sao? Bởi vì chúng ta không có phương hướng, không có mục tiêu, dù cho có nỗ lực cũng không thể có kết quả. Pháp xuất thế gian so với pháp thế gian càng phải nghiêm túc hơn nhiều, chúng ta không phát nguyện thì làm sao hành? Cho nên trước tiên phải phát nguyện, phát tâm Bồ-đề chính là phát đại nguyện. Quá trình đức học của Phu Tử quả là tấm gương cho chúng ta.

“Tứ thập nhi bất hoặc”. Đến tuổi này là Ngài không bị mê hoặc, không bị cảnh giới bên ngoài lôi kéo, vì Ngài không còn mê muội.

“Ngũ thập nhi tri thiên mệnh”. Biết mệnh trời là ý nghĩa gì? Là Ngài biết biết rõ nhân duyên, quả báo; biết tất cả chúng sinh đều là hiện tượng nhân duyên, quả báo tuần hoàn tương tục.

“Lục thập nhi nhĩ thuận”. Là tâm an định, tâm thanh tịnh hiện tiền. Kinh Kim cang nói: “Tín tâm thanh tịnh thì sinh thật tướng”. Trí tuệ chân thật hiện ra. Đại sư Lục Tổ Huệ Năng nói trong Đàn kinh:

Nếu người thật tu đạo
Không thấy lỗi thế gian.

Tai họ nghe nhưng không thấy lỗi của thế gian. Trong kinh Hoa nghiêm, Đồng tử Thiện Tài tham học với năm mươi ba vị thiện tri thức, cũng không thấy lỗi thế gian. Cảnh giới này là cảnh giới tai đã thuận.

“Thất thập nhi tùy tâm sở dục”. Là đến bảy mươi tuổi công phu thành tựu. Giữ tâm như thế nào? Là tâm làm theo ý muốn nhưng không vượt qua phép tắc. Thế nào là phép tắc? Là hoàn toàn tương ứng với pháp tánh, tuyệt đối không trái với pháp tánh. Cũng chính là nói theo ý muốn mà Ngài tự nhiên hợp tình, hợp lý, hợp pháp. Điều này thật vi diệu, đạo Phật chúng ta nói là “đại tự tại”, cuộc sống tự tại, hành vi xử sự, đối nhân xử thế cũng tự tại. Đây chính là nói “lợi ích thật sự”, “thọ dụng thật sự”. Phu Tử làm được, chúng ta là người học Phật thì phải đạt đến một cách nhanh chóng và viên mãn.

3. Phát tâm bồ-đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả

Điều sau cùng là “Tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại thừa”. Hiện tượng trong mười pháp giới y chánh trang nghiêm là quả báo. Quả phức tạp là theo mức độ phức tạp mà nói thì nhân tất nhiên sẽ tỷ lệ thuận với quả. Vì trong nhân quả phức tạp như thế nên chúng ta cần phải cẩn thận chú ý, luôn cảnh giác chính mình từng thời khắc, tuyệt đối không được tạo nhân xấu.

Khi còn trẻ, mới tiếp xúc Phật pháp, tôi vô cùng khâm phục Đức Phật, Ngài chỉ dạy mọi người hãy nhìn mình, không nên nhìn người khác. Điều này làm tôi khâm phục năm vóc lạy sát đất. Đức Phật dạy là dạy cho bạn, không phải dạy cho người khác. Nếu như bạn không vào từ cửa này mà muốn sớm thành tựu đạo nghiệp thì tuyệt đối làm không đến. Bởi vì, trọng tâm tu học Phật pháp là thiền định, là tâm thanh tịnh. Nếu như tâm bạn luôn nghĩ đến hoàn cảnh bên ngoài rồi phân biệt nó thì đến khi nào bạn mới đạt được định? Sẽ không bao giờ đạt được mục đích ấy!

Bạn muốn thành tựu thiền định, thành tựu tâm thanh tịnh thật sự thì hoàn toàn không duyên theo cảnh bên ngoài, trở lại duyên bên trong; đây là Phật pháp cao minh; vì thế Phật pháp được gọi là “nội học” là dạy bạn không phan duyên bên ngoài. Cảnh giới bên ngoài, thuận cảnh cũng tốt, nghịch cảnh cũng được; người tốt cũng được, người xấu cũng chẳng sao, bạn không cần để ý. Bạn đối với cảnh bên ngoài tâm luôn chân thật cung kính, thuận cảnh cũng như thế mà nghịch cảnh cũng như vậy; đối xử người thiện và người ác bình đẳng như nhau, tuyệt đối không được phân biệt, chỉ có tâm chân thành. Bạn vận dụng được tâm này thì không những người tốt, người thiện ca ngợi bạn mà người xấu cũng tán dương bạn; người xấu được bạn cảm hóa, đoạn ác tu thiện. Vì thế, Lục Tổ nói rất hay:

Nếu người thật tu đạo
Không thấy lỗi thế gian.

Người thường thấy lỗi thế gian là tự rước họa vào thân. Ngày nay, chúng ta mắc chứng bệnh nặng này rất phổ biến; từ sáng đến tối luôn thấy lỗi của người khác mà không thấy lỗi mình. Khi nào chúng ta không thấy lỗi người khác mà chỉ thấy lỗi mình thì chúng ta thành công. Công phu tu tập của bạn đạt được hiệu quả, bạn được thọ dụng thật sự.

Người khác thì thế nào? Họ tự có nhân quả của họ, quan trọng là chính mình. Nhân quả của họ, bạn không thể chịu thay cho họ, cũng không thể giúp họ thay đổi. Huống gì ở thời buổi này, ai chịu nói lỗi của người khác? Người xưa cũng không nói. Chúng ta đọc Lễ ký, tác phẩm đời Hán ghi, người nào nói lỗi của bạn? Chỉ có cha mẹ của bạn và thầy giáo của bạn. Vì họ có trách nhiệm dạy dỗ nên mới nói lỗi của bạn, bạn không được cãi lại. Bạn nói lỗi của bạn đồng học thì bị họ oán hận, thù hiềm rình chờ cơ hội báo thù. Do đó, ai chịu nói lỗi cho mình? Không có người nào chịu.

Phật, Bồ-tát giảng kinh, thuyết pháp một cách khéo léo để chúng ta nghe rồi nghĩ lại, mình có lỗi hay không, nếu có lỗi thì hãy mau tự mình phản tỉnh; đây gọi là “có lỗi thì sửa, không có lỗi thì khen ngợi”. Các ngài không nói thẳng lỗi của chúng ta mà các ngài chỉ nói một cách khéo léo để chúng ta tự mình phản tỉnh, tự giác ngộ, vì tâm của các ngài thanh tịnh. Vì thế trong kinh, luận nói lỗi lầm của hàng phàm phu rất nhiều, nhưng trên thực tế Đức Phật chẳng thấy lỗi lầm của người nào; đây là sự tài tình trong cách dạy học của Đức Phật nên Ngài chẳng mất tâm thanh tịnh.

Chúng ta phải hiểu rõ những điều này để tự mình phản tỉnh, hiểu được lòng từ bi chân thành của chư Phật, Bồ-tát thật bao la. Chỉ cần chúng ta tự nỗ lực, tu hành đúng lời dạy của các ngài, không cần quan tâm đến hoàn cảnh thì tự nhiên có Phật hộ niệm; Hộ pháp, Thiện thần ủng hộ chúng ta. Chúng ta không cần lo lắng có người đến phá hoại, gây chướng ngại. Bằng không, dù người khác không đến gây chướng ngại mà chính mình lại tự gây chướng ngại trước. Chúng ta nghĩ làm việc gì thì đó chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước làm hỏng chính mình trước tiên; điều này chúng ta cần phải nhìn kỹ mà buông xả.

Chúng ta phải tin chắc có sự hộ niệm của chư Phật. Sự hộ niệm này chính là tất cả chư Phật thường nhớ nghĩ và quan tâm chúng ta; đây là sự thật. Hộ pháp, Thiện thần tôn kính, khâm phục nên luôn luôn ủng hộ chúng ta. Còn nếu mình luôn nghi ngờ thì chẳng những Đức Phật không hộ niệm mà Thiện thần, Hộ pháp cũng không che chở. Chúng ta phải tự xét kỹ, bằng không thì chịu thiệt thòi rất lớn.

Vì thế, hai chữ “tin Phật” thật không dễ dàng, tin Phật rồi, chúng ta có còn vọng tưởng không? Còn lo âu, còn bận tâm không? Tất cả đều không còn, như thế mới nhất tâm hướng về đạo. Đạo ở đâu? Đạo chính là ngay trong cuộc sống, là chuyện ăn cơm, mặc áo. Chúng ta đọc đoạn mở đầu trong kinh Kim Cang ghi: “Đức Phật Thích-ca đắp y, ôm bát, vào thành Xá Vệ khất thực”; đây chính là đạo. Do đó, chúng ta có thể biết trong cuộc sống thường ngày chẳng có gì thay đổi, công việc hằng ngày cũng như vậy; những việc xử sự, đãi nhân tiếp vật, xã giao vẫn như thường.

Phật, Bồ-tát khác với phàm phu ở điểm nào? Phàm phu khởi tâm động niệm trong tất cả cảnh duyên vì phân biệt chấp trước nên trái với đạo. Còn Phật, Bồ-tát ngay trong cuộc sống không khởi tâm động niệm, không phân biệt, không chấp trước, hằng thuận chúng sinh, tùy hỷ công đức. Cuộc sống của các ngài tự tại, giao tiếp tự tại, được đại tự tại, được đại viên mãn.

Đại tự tại, đại viên mãn đều từ trong tâm thanh tịnh sinh ra. Kinh Kim cang nói rất hay: “Tín tâm thanh tịnh thì sinh thật tướng” tức là sinh trí tuệ thật tướng Bát-nhã. Trí tuệ thật tướng Bát-nhã hiện ra thì làm sao mà không được tự tại! Làm sao mà không viên mãn! Rốt cuộc đều do tâm thanh tịnh.

Vì thế, người tu hành ở bất cứ lúc nào, nơi nào cũng luôn luôn giữ tâm thanh tịnh, cũng chính là Giác, Chánh, Tịnh mà phần trước nói là Tam quy. Giác là không mê, Chánh là không tà, Tịnh là không nhiễm. Đạo lý niệm Phật cầu sinh về Tịnh độ như thế, lẽ nào chúng ta không được vãng sanh?

Nói về nhân duyên ở đời, như trong kinh Đức Phật dạy: “Chúng ta có thể làm được việc thế gian, nhưng không được làm theo ý thế gian”. Hai câu nói này thật là hay. Việc thế gian chúng ta có thể làm được, kinh Hoa nghiêm ghi: “Lý sự vô ngại, sự sự vô ngại”. Vậy chướng ngại ở đâu? Chướng ngại ở ý thế gian. Ý thế gian là gì? Là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Bạn phải đoạn trừ những thứ này. Ý nghĩa hai câu này rất sâu rộng.

Đức Phật thuyết pháp suốt 49 năm, giảng kinh hơn ba trăm hội. Ngài giảng điều gì? Chính là giảng những điều này, muôn nghìn lời nói, nói không cùng, đối với người, đối với việc, đối với sự vật; chúng ta nghĩ như thế nào? Nghĩ là sai lầm, nghĩ là rơi vào trong ý thức, nghĩ chính là vọng tưởng.

Có lẽ bạn hỏi: Chẳng phải mọi người đều phải suy nghĩ đó sao? Không sai! Mọi người đều là phàm phu, đều có vọng tưởng. Có phải ai cũng như thế không? Chỉ trừ Phật, Bồ-tát không suy nghĩ như vậy. Đáng tiếc là bạn chưa thấy, những điều bạn thấy đều là phàm phu; cho nên, bạn cho việc mình suy nghĩ bình thường.

Tại sao Phật, Bồ-tát không có suy nghĩ như thế? Bởi vì, các ngài biết vạn pháp đều không. Trong kinh Kim cang ghi: “Không thể nắm bắt được tâm ba thời”. Các ngài biết nghĩ là không, các pháp do duyên sinh, duyên sinh là tánh không, nên nghĩ cũng là không thì có gì để đâu mà suy nghĩ! Các ngài không suy nghĩ, nhưng đối phó sự việc lại có thể chu đáo mọi mặt. Tại sao các ngài làm chu đáo? Là phát xuất từ trí tuệ.

Tôi nêu ra một ví dụ, khi chúng ta đọc kinh điển thấy lời Đức Phật dạy có hay không? Rất có thứ tự, lớp lang không một chút lộn xộn; bất luận là giảng lý hay sự, đều đâu ra đó. Phật không khởi ý niệm: “Lần này, Ta phải giảng pháp như thế nào?”. Chưa hề, Ngài không khởi tâm, không động niệm, hoàn toàn tùy thuận tự tánh, từ trong tâm tánh phát ra tự nhiên như thế.

Chúng ta còn khởi tâm động niệm nên hành động còn nhiều thiếu sót. Vì sao nhiều người giảng mà chẳng có ai thành công, tại sao nhiều người viết sách mà chẳng có ai viết hay? Cho nên, chúng ta học Phật là học không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước, mọi việc đều dùng tâm chân thành. Tâm chân thành tất nhiên phát sinh trí tuệ, nên tự nhiên được chư Phật gia trì. Sự gia trì này chính là sự hộ niệm, sự quan tâm của chư Phật.

Tâm chân thành là tâm Phật, bạn với Phật là đồng tâm. Bốn hoằng thệ nguyện là đồng nguyện với Phật, đồng tâm đồng nguyện, đồng đức đồng tâm. Chúng ta có hiểu được ý nghĩa này không? Ngay trong cuộc sống thường ngày chúng ta làm được bao nhiêu phần? Đây chính là điều chúng ta tu hành. Tại sao chúng ta hành không đạt hiệu quả? Vì sao không cải thiện được cuộc sống của chúng ta? Nguyên nhân là ở tại chỗ này.

Chúng ta xét kỹ lại mình, tự kiểm điểm mình thì thấy chúng ta làm sai rồi! Hôm nay chúng ta thuận theo phiền não, tùy thuận tập khí. Phiền não là tham, sân, si. Chúng ta tùy thuận mấy thứ này; mắt thấy sắc đẹp, tai nghe tiếng hay, liền khởi tâm tham đắm, khởi tâm kiêu mạn, việc gì không vừa ý thì nổi giận; những điều này đều là ngu si.

Thế nên, có người này nhìn bề ngoài dường như là học Phật, nhưng trên thực tế đối với người, đối với sự việc, đối với sự vật thì luôn khởi tâm động niệm chẳng có chút gì sửa đổi. Trong kinh Đức Phật dạy hai chữ “thọ trì”; chẳng những chúng ta không làm được mà không hiểu ý nghĩa hai chữ này, nếu có hiểu thì lại hiểu sai; cho rằng mỗi ngày tôi tụng kinh một lần là thọ trì. Chúng ta biết sai ở đâu không?

Tôi nói thật, chúng ta muốn đạt được hiệu quả công phu tu tập là cải thiện cuộc sống của chúng ta, chẳng những cải thiện đời sống hiện tại mà còn cải thiện đời sau. Cuộc sống đời sau, ý nghĩa này thật là rất dài. Theo cách sống hiện tại của chúng ta đúng như trong kinh, luận Đại, Tiểu thừa Đức Phật dạy, sau khi chúng ta mất thân người, đời sau muốn được thân người, thật là khó. Vậy chúng ta sẽ đi về đâu? Phần đông đọa trong ba đường ác.

Làm sao chúng ta biết mình đọa vào ba đường ác? Chỉ cần nghe mọi người nói một câu thì biết rõ: “Chết rồi làm quỷ”. Mọi người đều cho rằng, sau khi chết rồi đều làm quỷ. Tôi chưa nghe ai nói chết rồi làm người mà chỉ nghe nói sau khi chết rồi làm quỷ.

Đức Phật thường dạy chân lý: “Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh”. Theo cách nghĩ của bạn người chết đều thành quỷ. Bạn có ý nghĩ, quan điểm như vậy thì nhất định bạn đi làm quỷ rồi! Có bao nhiêu người suy nghĩ sau khi chết được làm người, hoặc sinh lên cõi trời hay làm Phật, Bồ-tát; điều này rất ít nghe nói đến, chỉ có nghe người chết đều bị làm quỷ. Chúng ta không nên cho câu nói này là bình thường, chưa chắc là đúng. Thật ra câu nói này là đúng, câu nói này thật không bình thường.

Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh, kinh Hoa nghiêm ghi: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Đây cũng là lời Đức Phật dạy, con người sau khi chết, được thân người lại rất khó; huống gì theo nguyên lý kinh Phật đã dạy, đời sau muốn được làm thân người thì nhất định phải đầy đủ điều kiện của năm giới. Năm giới với năm thường của nhà Nho ở Trung Quốc nội dung giống nhau. Năm thường là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

1. Nhân: Là nhân từ chúng ta làm được không? Đối với người, đối với vật chúng ta có lòng nhân từ chưa?

2. Nghĩa: Đối với người, đối với sự vật, chúng ta có tận tâm làm tròn nghĩa vụ chưa? Tuy có thù lao, nhưng không xem trọng thù lao mà cho là việc bổn phận của ta. Chúng ta phải tận tâm tận lực làm cho tốt; đây là đạo nghĩa, nhưng không nên xem là trả thù lao. Thù lao nhiều thì tôi làm nhiều, thù lao ít thì tôi làm ít, hạng người này không có nghĩa.

3. Lễ: Giữa người với người phải có lễ phép qua lại.

4. Trí: Nói đơn giản là lý trí, chẳng phải theo tình cảm mà làm việc.

5. Tín: Là tín dụng, chữ tín rất quan trọng là “không dối mình, không lừa người”. Tự lừa dối mình là lương tâm bị mê muội. Chúng ta thường nghe tục ngữ nói: “Người không có lương tâm”. Người không có lương tâm thì bàn đến chữ tín làm gì? Bên trong lương tâm mê muội; bên ngoài dùng nhiều thủ đoạn tinh vi lừa gạt người khác.

Người nào phạm năm điều này thì đời sau không làm được thân người. Chúng ta làm được năm điều này thì lương tâm không có hổ thẹn, chắc chắn đời sau được làm thân người. Chúng ta xem những người này trong xã hội ngày nay, lại so với mình, điều quan trọng nhất là tự kiểm điểm mình, tự mình có làm được hay không? Tự mình đời sau có được thân người không? Nếu như chúng ta không có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín thì đời sau nhất định đọa trong ba đường ác.

Như tôi vừa nói, mọi người đều nói sau khi chết làm quỷ, trong sáu đường luân hồi, không đến đường khác mà cứ khăng khăng chọn đường quỷ, nhưng đã nói đến đường quỷ thì phải có lý của nó. Điều kiện của đường ngạ quỷ là tâm tham; tham danh tiếng, tham lợi dưỡng, tham sắc đẹp; đối tượng tham rất nhiều, chỉ cần nặng tâm tham là nghiệp nhân của đường ngạ quỷ.

Tâm nặng sân hận, ganh tỵ là nghiệp nhân của đường địa ngục. Không có trí tuệ, không phân biệt được thật-giả, chánh-tà, thiện-ác là nghiệp nhân của đường súc sinh. Tham, sân, si là nghiệp nhân của ba đường ác. Chúng ta tự xét mình có tham, sân, si không? Tham, sân, si, ý niệm này có nghiêm trọng không? Nếu như ý niệm này nặng thì chúng ta phải luôn cảnh giác. Nếu không cảnh giác thì tương lai của chúng ta sẽ tăm tối, chúng ta muốn nghĩ đến niệm Phật cầu sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc thì nhất định phải diệt tham, sân, si; siêng tu ba tư lương là Tín, Nguyện, Hạnh theo đúng lời Phật dạy mà tu hành. Đời nay, chúng ta không để thời gian trôi qua uổng phí, nhân duyên đời này thù thắng không gì sánh bằng. Chúng ta thật sự gặp được Phật pháp, lại gặp được pháp môn Tịnh độ rất thù thắng. Duyên phận này không thể nghĩ bàn, trong bài kệ khai kinh ghi: “Trăm nghìn vạn kiếp khó gặp được”. Cư sĩ Bành Tế Thanh ở đầu nhà Thanh nói: “Một ngày hiếm hoi khó gặp từ vô lượng kiếp đến nay”. Chúng ta đã gặp được rồi, nhân duyên thiện căn, phước đức đầy đủ; nếu như tự mình không nắm bắt để nó trôi qua thì thật là đáng tiếc.

Hôm nay, tôi tiếp tục luận bàn về một số chướng ngại trong sự tu hành. Đức Phật đích thực là bậc Nhất Thiết Trí; giống như tín đồ tôn giáo ở thế gian ca tụng thần “việc gì cũng biết, cái gì cũng làm được”. Sau khi, Đức Phật nhập diệt đến nay khoảng hơn 2500 năm, những chướng ngại của chúng sinh tu học Phật pháp, vào thời kì mạt pháp; thuở xưa, khi Đức Phật giảng kinh, thuyết pháp đã từng nói việc này; nếu Ngài không phải là bậc Nhất Thiết Trí chân thật thì không nói được như thế.

moi-buoc-chan-di-vao-tinh-do

Trích bài giảng của Pháp sư Tịnh Không tại Dallas, Mỹ quốc vào năm 1996
CỬA VÀO TỊNH TÔNG
Pháp sư Tịnh Không giảng – Cư sĩ Ngô Chân Độ ghi lại
Việt dịch: Thích nữ Viên Thắng – Hiệu đính: Định Huệ

[1] Lục hòa: Sáu pháp hòa đồng, kính ái. Đó là: Thân hòa đồng trụ, Khẩu hòa vô tranh, Ý hòa đồng duyệt, Giới hòa đồng tu, Kiến hòa đồng giải, Lợi hòa đồng quân.

[2] Năm bộ kinh: Một, kinh Vô Lượng Thọ; hai, kinh Quán Vô Lượng Thọ; ba, kinh A-di-đà; bốn, kinh Hoa Nghiêm, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện; năm, kinh Lăng-nghiêm, chương Niệm Phật viên thông.

[3] Thầy Lý tức cụ cư sĩ Lý Bỉnh Nam, thầy của Hòa thượng Tịnh Không.

[4] Chín pháp giới: gồm Tam thừa thánh nhân: Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác. Và lục phàm: Trời, người, a-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục.

[5] Tam bất thoái: Vị bất thoái, Hạnh bất thoái, Niệm bất thoái.

[6] A-duy-việt-trí: (S: Avinivartanìya) Bất thoái chuyển.

[7] Đới nghiệp vãng sanh: Sau khi chết, mang túc nghiệp sinh về thế giới Cực Lạc của Phật A-di-đà.

Công ơn cha mẹ

cha-me-thuong-con-bien-ho-lai-lang-01

Hiếu dưỡng phụ mẫu là hạnh lành trong tam tịnh nghiệp. Trong kinh Tăng chi bộ, đức Thế tôn đã dạy người làm con phải biết kính trọng và báo đáp ơn đức sâu dày của cha mẹ như sau:

Cha mẹ là những người thày đáng kính, là A La Hán  và Bồ tát:

“Nầy các Tỳ Kheo, những gia đình mà trong nhà có vị A La Hán hay vị Bồ Tát, thì bố mẹ được con cái kính trọng. Những gia đình mà trong nhà có những vị Thầy Cô kinh nghiệm và khôn ngoan, thì bố mẹ được con cái kính trọng. Những gia đình mà trong nhà có những vị Thần già dặn và khôn ngoan, thì bố mẹ được con cái kính trọng. Những gia đình mà trong nhà có những vị đáng được tôn thờ, thì bố mẹ được con cái kính trọng. [Bố mẹ được coi như “những vị Thầy Cô kinh nghiệm và khôn ngoan” và “những vị Thần già dặn và khôn ngoan” bởi vì bố mẹ là những vị Thầy Cô đầu tiên của con khi còn thơ và cũng còn là người hướng dẫn đời sống tâm linh của con mình].

Con on cha me

Nầy các Tỳ Kheo, “A La Hán” hay “Bồ Tát” là một tên khác dành để gọi bố và mẹ, “Những vị Thầy Cô dạy ta lúc còn bé” là một tên khác dành để gọi bố và mẹ.  “Những vị Thần thời thơ ấu” là một tên khác dành để gọi bố và mẹ. “Những vị đáng được tôn thờ” là một tên khác dành để gọi bố và mẹ. Tại sao như vậy? Bởi vì bố mẹ là người đã giúp đỡ cho con, hết lòng dạy dỗ, và nuôi nấng cho con khôn lớn, cùng dẫn dắt con trên đường đời.”

cha-me-thuong-con-bang-troi-bang-be.jpg

Ơn đức cha mẹ thật lớn lao:

“Nầy các Tỳ Kheo, Như Lai nói rằng có hai người mà ta không bao giờ có thể đền đáp công ơn được. Hai người đó là hai người nào? Đó là bố và mẹ. Cho dù khi ta cõng  mẹ trên một vai và cõng bố trên vai kia suốt một trăm năm, sống cho đến khi một trăm tuổi; cho dù khi ta săn sóc bố mẹ, xoa bóp dầu nóng để bố mẹ khỏi đau nhức, đấm bóp, tắm rửa, chà rửa tay chân, ngay cả lau dọn phân và nước tiểu do bố mẹ phóng uế, như thế cũng vẫn chưa làm tròn bổn phận để trả công ơn bố mẹ. Giả dụ ta có thể đưa bố mẹ lên làm vua chúa, hay là làm người lãnh đạo cầm quyền giầu có với bẩy loại báu vật, như thế cũng vẫn chưa làm tròn bổn phận để trả công ơn bố mẹ. L‎ý do tại sao như thế? bởi vì bố mẹ đã tạo nhiều công ơn cho con cái: bố mẹ đã nuôi nấng cho con khôn lớn, và dẫn dắt con trên đường đời. ‎

xuc-dong-bo-tranh-cha-yeu-con-theo-cach-cua-cha.jpg

Nầy các Tỳ Kheo, tuy nhiên, nếu như bố và mẹ không có niềm tin, người con có thể khuyến khích bố mẹ bằng cách tạo cơ hội và gây dựng cho bố mẹ có niềm tin vững chắc vào Tam Bảo; đối với những bố mẹ không sống theo đạo đức, người con có thể khuyến khích bố mẹ bằng cách tạo cơ hội và gây dựng cho bố mẹ sống đời đức hạnh; đối với những bố mẹ sống keo kiệt, người con có thể khuyến khích bố mẹ bằng cách tạo cơ hội và gây dựng cho bố mẹ sống đời rộng lượng; đối với những bố mẹ sống thiếu hiểu biết, người con có thể khuyến khích bố mẹ bằng cách tạo cơ hội và gây dựng cho bố mẹ sống đời hiểu biết và khôn ngoan – nầy các Tỳ Kheo, được như thế, những người con nầy đã làm đầy đủ bổn phận: họ đã hoàn toàn trả hiếu, bởi vì công ơn của những người con nầy nay đã hơn hẳn công ơn của bố mẹ họ đã làm.”

Đức Thế tôn đã báo hiếu cha mẹ bằng cách giác ngộ cho song thân giải thoát khỏi luân hồi, ngài lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho thân mẫu, ở bên giường bệnh của cha suốt 7 ngày đêm thuyết pháp cho cha, khuyên cha vãng sinh thế giới Cực Lạc. Nếu chúng ta đời này có thể khuyên cha mẹ niệm Phật vãng sinh và hộ niệm cho cha mẹ vãng sinh Cực Lạc thế giới, thì đó là sự báo hiếu tối cực nhất trong những sự báo hiếu!

tinh-yeu-thuong-cua-cha-me-10

Những ai đang còn cha mẹ là còn Phật sống bên mình, đừng nên làm những điều khiến song thân buồn khổ. Nếu một mai cha mẹ không còn, trên đời này còn ai yêu thương che chở ta như thế?

Thuong cha me

Nguyện cho tất cả những người con trong thiên hạ đều thành hiếu tử, nguyện cho các bậc cha mẹ trong thiên hạ đều vãng sinh Cực Lạc!

Nam mô A Di Đà Phật!

PMNP

 

Chuyện vãng sanh của đại sư Đàm Loan

Đàm Loan đại sư
Tổ sư Đàm Loan
Sư Đàm Loan người ở Nhạn Môn. Thuở nhỏ, Sư dạo chơi ở núi Ngũ Đài cảm ứng được điều linh dị, liền phát tâm xuất gia. Sư hiểu thông suốt nghĩa đốn tiệm của tam thừa, thường đọc kinh Đại tập, khổ công nghiên tầm diệu nghĩa trong từng câu chữ. Những chỗ nào ý nghĩa sâu xa khó hiểu, Sư ghi lại để chú giải.
Sư thường hay bệnh hoạn, một lần Sư đến Phần Châu chợt thấy mây đen tan hết, cửa trời mở rộng, sáu tầng trời cõi Dục xếp chồng lên nhau, Sư chớp mắt nhìn, tự nhiên hết bệnh. Từ đó, Sư chuyên tâm nơi Phật đạo không hề biếng trễ, giảng dạy đạo lí cho người chẳng quản ngại xa gần.
Ngu dai son
(Ngũ Đài Sơn)
Lúc đầu, Sư ham thích đạo thuật, nghe Giang Nam có Đào Ẩn Cư thông đạt pháp trường sinh của Đạo gia, Sư liền vượt nghìn dặm xa xôi đến đó nương học, được họ Đào trao cho một bộ kinh Tiên mười quyển. Được kinh, Sư ung dung tự đắc, cho đó là pháp thuật thần tiên tuyệt diệu. Sau đó về lại Lạc Dương, gặp ngài Bồ-đề-lưu-chi Sư đắc ý, hỏi rằng:

– Đạo Phật có trường sinh không? Có thể khiến cho không già, không chết chăng?

Ngài cười đáp lại:

– Trường sinh bất tử là pháp của nhà Phật, Đạo gia làm sao có được!

Nói rồi, ngài trao cho Sư bộ kinh Quán Vô Lượng Thọ và dạy:

– Ông tụng kinh này thì không còn sinh vào ba cõi, chẳng ở mãi trong sáu đường, không còn bóng dáng đầy vơi, thịnh suy, họa phúc, thành bại, đó là trường thọ, được thọ lượng lâu dài như kiếp thạch[1], nhiều như số cát ở sông Hằng. Cát sông Hằng còn có số lượng, nhưng tuổi thọ thì vô cùng. Đây là phép trường sinh của đấng Kim Tiên[2] ta vậy!

Nghe xong, Sư chợt khởi lòng tin sâu xa, liền đốt kinh Tiên, chuyên trì kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, hiểu thấu nghĩa kinh, tu tập ba phúc, quán tưởng chín phẩm. Dù cho khí trời lạnh lẽo hay nóng bức, bệnh tật gây khó khăn, Sư vẫn không một mảy may giải đãi. Vua Ngụy mến mộ chí hướng của Sư, khen về sự tu hành và việc hoằng hóa rộng rãi, ban hiệu là Thần Loan, cử sư trụ trì chùa Đại Nghiêm ở Tịnh Châu. Chưa được bao lâu, Sư dời đến trụ trì chùa Huyền Trung ở Bích Cốc, Phần Châu.

BỒ-TÁT-LONG-THỌ
(Bồ tát Long Thọ)

Vào một đêm, Sư đang tụng kinh thì thấy một vị Phạm tăng uy nghi vào thất, nói:

– Tôi là Long Thụ ở cõi Cực Lạc! Vì ông có tâm nguyện Tịnh độ nên tôi đến đây gặp ông!

Sư thưa:

– Ngài dạy con điều gì?

Đáp:

Quá khứ thì đã qua
Tương lai thì chưa tới,
Hiện tại thì ở đâu?
Thời gian chẳng quay lại!

Nói xong, ngài biến mất. Thấy được việc thù thắng này, Sư biết mình sắp lâm chung, liền tập hợp vài trăm đệ tử lại, khuyên bảo rằng “Biển trần lao khổ nhọc, không biết đâu là bến nghỉ ngơi, cảnh địa ngục rất đáng kinh sợ, môn Tịnh độ cần phải tu hành !”

Bốn loài trôi lăn
Bao giờ chấm dứt?
Địa ngục thống khổ
Sao không sợ hãi?
Chín phẩm Tịnh độ
Không thể không tu.

Nhân đó, Sư bảo đệ tử cùng niệm lớn A-di-đà Phật. Sư quay mặt về hướng tây nhắm mắt, cúi đầu lạy rồi viên tịch. Bấy giờ, tăng tục đều nghe có tiếng nhạc từ hướng tây vọng lại, rồi cũng dứt từ phía tây. Vua Ngụy nói:

– Sư quả thật là bậc chân tu, đã vãng sinh về đó rồi!

Vua ra lệnh an táng Sư ở Văn Cốc, phía tây sông Phần, và cho khắc hành trạng của đại Sư vào bia đá.

Khai thị của đại sư Đàm Loan:

Đại sư dạy: “Ngoài bổn nguyện cầu sanh, lại cần phải phát lòng bồ đề, được vãng sanh cùng không, lấy đây làm chỗ y cứ”. Thế nào là “Thập niệm tương tục”. – Đáp: Ví như có người ở nơi đồng vắng bị giặc cướp rút gươm rượt theo muốn giết, sợ hãi qúa chạy thẳng miết đến một con sông. Đến đây người ấy thoáng nghĩ: “Nếu qua được sông này ta mới mong bảo toàn thân mạng, nhưng bây giờ để y phục lội sang hay là cởi bỏ? Nếu để y phục sợ e sông rộng vướng mắc lội không thoát còn cởi bỏ thì không kịp vì giặc đuổi gần tới! Bấy giờ người ấy chỉ có một niệm tìm phương tiện làm sao cho qua được sông thôi, tuyệt không có ý nghĩ chi khác.

Hành giả niệm Phật lại cũng như thế, chỉ chuyên thiết niệm, không có tạp tưởng, tâm tâm nối nhau cho đến mười niệm, gọi là “Thập niệm tương tục”. Người niệm Phật khi bình thời nên ước hẹn với năm ba bạn đồng tu, đến lúc lâm chung nhắc nhở trợ niệm lẫn nhau. Như thế sự vãng sanh mới có phần vững chắc.

Ghi chú:

Có đạo sĩ từng nói: “Đạo Phật có chết, thần tiên trường sinh”. Nay Bồ-đề-lưu-chi nói: “Đạo Phật có pháp trường sinh, thần tiên không có”. Sự lập luận này tuy đơn giản nhưng lưu truyền muôn thuở. Pháp sư Thần Loan bỏ tà về chính như cởi đôi giày xấu. Há chẳng phải kiếp trước ngài đã tạo nhân tốt hay sao?

Trích: Bốn Chúng Vãng Sanh
Biên dịch: Chúc Đức và các thành viên

[1] Kiếp thạch 劫石: Tỉ dụ cho sự lâu dài của kiếp. Kiếp thạch được ví như thời gian lấy áo trời quét nhẹ lên núi đá vuông bốn mươi dặm cho đến khi mòn hết.

[2] Kim Tiên 金仙(Cg: Đại Tiên; S: Maharṣi): Tiếng tôn xưng Đức Phật. Vì Phật là bậc chí tôn trong hàng tiên. Từ này còn dùng để chỉ cho người đã đạt được tất cả công đức thiện căn ba-la-mật.

Cụ Nguyễn Thị Nhật vãng sanh và bông hồng thiêu không cháy

Bông hồng bất tử
Bông hồng thiêu không cháy

Tôi là một Phật tử cư ngụ tại miền Đông Bắc nước Mỹ, tiểu bang Pennsylvania. Tiếng là Phật tử nhưng thật ra tôi chỉ mới chập chững bước vào cửa đạo. Tôi biết rất ít về Phật pháp. Nhưng có lẽ nhờ nhân duyên đặc biệt nào đó từ đời trước nên tôi tin tưởng hết lòng vào pháp môn Tịnh độ. Còn nhớ lần đầu tiên khi mới bắt đầu tìm tòi học hỏi về Phật pháp đã gặp ngay pháp môn này, tôi mừng còn hơn bắt được vàng, không gì có thể so sánh được với nỗi vui mừng của tôi lúc đó, không gì có thể đánh đổi được giá trị của pháp môn Niệm Phật đối với tôi.

Tôi thầm nhủ: “Thì ra mình có thể thoát ly sanh tử ngay trong kiếp này, chứ không phải tu hành cả mấy tỉ tỉ kiếp mới có thể thành Phật như mình đã từng nghe từ trước và e ngại sẽ không làm được”. Kể từ đó, tôi miệt mài tìm hiểu về pháp môn Niệm Phật, say mê nghe những bài giảng về pháp môn này và cố gắng thu thập tất cả những điểm trọng yếu trong phương pháp tu tập để biết phải làm thế nào mới được vãng sanh Cực Lạc. Tôi ao ước mình sẽ được vãng sanh và thiết tha mong ước tất cả mọi người đều biết tu theo pháp môn này để tất cả đều được vãng sanh Cực Lạc. Tôi được nghe về phương pháp hộ niệm qua sách vở và băng dĩa, nhưng chưa bao giờ chứng kiến tận mắt. Vì thế, tôi thầm mong mỏi có một dịp nào đó mình sẽ được hộ niệm cho một người nào đó để họ được vãng sanh. Nhưng ở vùng này hình như không ai muốn chúng tôi hộ niệm trong lúc sắp lâm chung mà chỉ mời Ni sư đến sau khi người thân đã qua đời và chúng tôi chỉ được cơ hội đó theo quí Sư cô đi tụng niệm mà thôi. Cho đến một hôm…

Ni Sư cho biết là có một bà cụ đang nằm bịnh viện, bịnh trạng cũng khá  trầm trọng và gia đình cho phép chúng tôi đến niệm Phật cho cụ. Chúng tôi mừng khấp khởi, vội vào bịnh viện thăm cụ và cùng với quí Sư cô niệm Phật cho cụ. Bà cụ lúc mê lúc tỉnh. Lúc mê thì nằm liệt ra không biết gì cả, khuôn mặt nặng nề trì xuống một cách méo mó và một con mắt thì bị xệ hẳn xuống; lúc tỉnh thì không nói được nhưng đau đớn rên rĩ, vung tay thật mạnh lên khỏi đầu như không còn chịu đựng nổi cơn đau. Nhìn cụ tôi thấy lòng xót xa, thương vô cùng nhưng không biết phải làm sao để giúp cụ, chỉ còn cách niệm Phật để cụ bớt đau. Vì mong ước được niệm Phật cho cụ vãng sanh nên tôi lo lắng đủ điều: tôi lo rằng nếu cụ mất trong bịnh viện thì chúng tôi sẽ không được phép niệm Phật cho cụ như ở nhà, và như vậy thì khó mà giúp cụ về Tây phương Cực Lạc được. Tôi cứ thầm nói với cụ: “Cụ ơi!  Cụ khoan chết nghe, cụ rán đợi cho đến lúc bác sĩ “chê” cho cụ về nhà rồi cụ hẳn chết, để chúng con có thể niệm Phật cho cụ suốt ngày đêm để cầu cho cụ được vãng sanh Cực Lạc”. Vào bịnh viện thăm cụ được vài ngày thì có một ngày cụ tỉnh lại, và cụ đã cố gắng nhép miệng niệm Phật theo chúng tôi. Cụ muốn chúng tôi niệm Phật cho cụ, chúng tôi rất mừng và khuyên cụ cố gắng niệm theo hay nghe chúng tôi niệm cũng được. Vài ngày sau, tức là ngày 10 tháng 11 năm 2008, cụ được xuất viện và về đến nhà vào buổi chiều, chúng tôi định bắt đầu từ ngày hôm sau đến nhà niệm Phật cho cụ mỗi ngày 1-2 tiếng đồng hồ. Nhưng vào khoảng 8 giờ tối hôm ấy, Ni sư gọi chúng tôi  bảo rằng cụ đang hấp hối. Chúng tôi vội vã lên đường…

Lúc chúng tôi bước vào nhà thì cụ đã ra đi được một tiếng đồng hồ. Quí Sư cô đang ngồi  bên cạnh giường niệm Phật cho cụ. Đôi mắt cụ nhắm nghiền, khuôn mặt cụ từ mắt trở xuống trông vàng nhợt nhạt, màu vàng của một cái thể xác không còn sinh khí. Vầng trán thì màu sậm hơn một tí, nhưng cũng khô khan một màu của người chết. Hai vành môi của cụ thâm đen và hở cách khoảng nhau gần bằng 1 inch. Cổ bên trái của cụ có một vết bầm đen và bầm đỏ lớn khoảng bằng bàn tay. Chúng tôi ngồi xuống sau lưng  quí Sư cô niệm Phật cho cụ. Chúng tôi hẹn nhau quyết định sẽ thức trắng đêm nay niệm Phật cho cụ suốt tám tiếng đồng hồ cho đến khi nhà quàng đến mới thôi. Chúng tôi thành tâm và tha thiết niệm Phật:  cái tâm thành của một tấm lòng vì người khác mà hết lòng hết sức niệm để mong cho người được vãng sanh, mong cho tiếng niệm và tấm chân tình của mình thấu đến tâm từ bi của đức Phật A-di-đà để được sự cảm ứng; cái tha thiết của một tấm lòng mong cho người người được vãng sanh để cho người người được giải thoát, để cho cõi Ta-bà này bớt đau khổ, để cho mọi người sớm thành Bồ-tát, thành Phật rồi trở lại độ tất cả chúng sanh. Tôi thầm nguyện cầu đức Phật A-di-đà đại từ đại bi hiểu thấu lòng thành của chúng tôi mà phóng hào quang đến tiếp dẫn cụ về Cực Lạc.

Đêm đã về khuya, chúng tôi vẫn tiếp tục niệm, con cháu của cụ cũng đã tham gia niệm Phật với chúng tôi tự nãy giờ nên sự trợ niệm của chúng tôi mạnh hơn. Chốc chốc anh trưởng ban lại ghé vào tai cụ nhắc nhở cụ niệm Phật và nhất là khẩn cầu đức Phật A-di-đà đến tiếp dẫn. Chúng tôi cứ kiên trì và thành tâm niệm, niệm hoài niệm mãi không ngừng dù chỉ một giây, khi thật lớn tiếng, khi thì vừa vừa, khi nhanh khi chậm. Sau khoảng hơn hai tiếng đồng hồ thì thấy màu môi của cụ đã bớt thâm đen. Rồi một lúc sau màu vàng nhợt nhạt của phần dưới khuôn mặt từ từ thay đổi giống như màu da của một người sống, còn màu sậm của vầng trán thì từ từ nhạt dần để phù hợp với màu da của phần dưới khuôn mặt cho đến khi cả khuôn mặt cùng có một màu giống như người bình thường. Đôi mắt của cụ nhắm lại thẳng hàng với nhau và khép một cách nhẹ nhàng, thoải mái như đang ngủ chứ không phải bị sưng và bị xệ hẳn xuống một bên như lúc nằm trong bịnh viện. Hai vành môi của cụ nhạt dần màu thâm đen và từ từ khép gần lại, mỗi lúc một chút, thật ít đến độ mình không thấy rõ khép gần lại bao nhiêu, nhưng lại thấy rõ sự thay đổi khép lại mới thật là lạ. Vết bầm đen và đỏ ở cổ cũng đã phai nhạt đi phần nào. Trong vòng hai đến bốn tiếng đồng hồ thì sự thay đổi rất là chậm. Từ bốn đến sáu tiếng đồng hồ thì sự thay đổi nhanh hơn một chút. Khoảng sau bảy tiếng đồng hồ thì làn da trên má của cụ bắt đầu mơn mởn ra và hơi săn lại. Vết bầm ở cổ đã nhạt đi rất nhiều. Còn đôi môi? Đôi môi cụ đã khép kín lại, không những khép kín lại thôi mà còn như đang mỉm cười… Nụ cười thật nhẹ nhàng, thoải mái, hoan hỉ. Nét mặt của cụ thật an lạc. Tôi ngồi mà nhìn ngang cũng thấy cụ đang mỉm cười, đứng dậy để nhìn thẳng vào mặt cụ cũng thấy cụ đang cười mỉm, rõ ràng là một nụ cười mỉm thật nhẹ nhàng, kín đáo, thanh thoát, đẹp không thể tưởng tượng, nụ cười mỉm chỉ đủ cho thấy cụ đang mỉm cười nhưng hai vành môi vẫn khép kín, đủ để thấy hai má lún đồng tiền của cụ. Các con của cụ bảo nhau: “Lạ quá!  Sao bây giờ mẹ đẹp hơn cả lúc còn sống!”.

Chúng tôi vẫn niệm đều đều không ngừng nghỉ từ lúc bắt đầu cho đến bây giờ là đã gần 5 giờ sáng. Tự nhiên, anh trưởng ban của chúng tôi đang niệm đều đều bất ngờ thay đổi tốc độ và cường độ, niệm ào ào như vũ bảo và thật lớn tiếng. Chúng tôi cũng niệm theo như vậy nhưng tôi không hiểu tại sao và thầm thắc mắc: “Không biết ông này ổng thấy cái gì mà tự nhiên ổng làm ào ào như vậy”. Ngay lúc đó anh ấy thúc vào tay tôi bảo: “Giờ linh thiêng, niệm mạnh lên!”. Tôi sực nhớ lại, đúng rồi, từ 3 đến 5 giờ sáng là giờ linh thiêng. Tôi liền dùng hết sức, niệm nhanh và thật lớn tiếng với tất cả tâm thành, cả nhóm cũng làm theo. Tiếng niệm của chúng tôi sang sảng vang vang làm chấn động cả bầu không khí tĩnh mịch, ào ào như thác đổ, và hùng dũng như bất chấp mọi trở ngại… Chúng tôi niệm như vậy có lẽ khoảng hơn một tiếng đồng hồ thì nhà quàng đến. Thăm dò điểm nóng thì thấy hơi nóng xuất ra từ đỉnh đầu của cụ nên chúng tôi càng phấn chấn hơn, niệm liên tục không ngừng nghỉ cho đến giờ phút cuối. Lúc ấy tôi nhìn lại thì thấy vết bầm ở trên cổ của cụ đã nhạt mất đến khoảng 95% so với lúc đầu. Sau khi mọi việc đã xong xuôi, anh trưởng ban mới kể rằng lúc nảy anh đang niệm đều đều và cảm thấy như sắp ngủ gục thì tự nhiên hai tay anh run bần bật và có một sức mạnh nào đó từ trong tâm của anh thúc đẩy anh phải niệm thật hùng dũng và thật lớn tiếng như vậy.

Nhân viên nhà quàng người Mỹ chỉ cử một người đến nên anh trưởng ban của chúng tôi phải phụ một tay khiêng cụ chuyển sang giường khác. Lúc ấy cơ thể của cụ vẫn còn mềm mại đến độ ông nhân viên ấy hỏi anh trưởng ban rằng đã chết bao lâu mà sao cơ thể còn mềm như vậy. Anh này bảo đã 9 tiếng rưỡi đồng hồ, ông ấy ngạc nhiên bảo là chuyện lạ mà ông chưa từng thấy bao giờ.

Vào ngày hỏa táng, tôi cầm một cánh hoa hồng màu tím nhạt đến trước mặt cụ, khấn rằng: “Thưa cụ, con biết chắc rằng cụ đã được vãng sanh, con xin phép được dâng cụ đóa hoa hồng này, xin cụ ban cho một kỳ tích nào đó để cho mọi người thấy mà tăng thêm lòng tin, phát tâm tinh tấn tu theo pháp môn niệm Phật và cầu vãng sanh để mọi người đều được Vãng Sanh Cực Lạc”. Khấn xong tôi nhẹ nhàng để đóa hoa hồng trên ngực của cụ chỗ gần cánh tay phải và sau đó nắp quan tài được đóng lại.

Sau khi hỏa thiêu, con cháu của cụ tìm được một số xương còn lưu lại, ngoài ra còn có đóa hoa hồng của tôi. Hoa vẫn còn giữ được màu sắc xanh của đài hoa, còn màu tím nhạt của cánh hoa thì bây giờ trở thành một màu tím tươi thắm hơn vì đóa hoa được ép nhỏ lại một cách cẩn thận, chỉ bằng một lóng của ngón tay út, dày khoảng 2 ly dưới hình dạng của một búp hồng mới hé mở để chỉ đủ cho thấy màu sắc tươi đẹp của cánh hoa bên trong. Hoa rất xinh, đẹp và cũng cứng như xá lợi. Nhiệt độ của lò thiêu nóng khoảng 3000 độ F, thế mà đóa hoa tươi mềm mại và mong manh của tôi, mặc dù rất dễ dàng bi tan vỡ trước một cơn gió thổi, nhưng lại không bị thiêu rụi thành tro mà còn giữ được hình dáng và màu sắc.

Ôi!  PHÁP PHẬT NHIỆM MẦU KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN!  Chỉ có những ai tự mình uống nước thì mới biết được nước nóng hay lạnh. Hào quang của Phật tỏa chiếu khắp mười phương, tâm từ bi của Phật bao trùm cả vũ trụ, chỉ cần chúng ta biết Thức Tỉnh, Tu Tập và Quay Về…

Cực Lạc Tây Phương quê hương còn đó,
Sao dại khờ nở hờ hửng quay lưng?
Di Đà đợi – Từ Bi Tâm rộng mở,
Hào quang nương – ta mau trở về Nguồn.

Giờ phút cuối xin được Ngài tiếp dẫn,
Dưới chân Ngài nguyện hết dạ tu hành.
Một ngày kia khi ước nguyện đã thành,
Ta Bà khổ – ta xin hết lòng Độ.

Bằng tất cả tâm thành, tôi đã kể lại những điều tôi được chứng kiến tận mắt từ đầu đến cuối trong cuộc vãng sanh của cụ bà Nguyễn thị Nhật, pháp danh Diệu Minh, 86 tuổi, tại Telford, Pennsylvania – USA.

A-di-đà Phật!  Con xin thành tâm cúng dường công đức này đến tất cả tam thế thập phương chư Phật, chư Bồ-tát, chư Hiền, Thánh, Tăng, nguyện cầu hồng ân Tam bảo gia hộ cho tất cả chúng sanh đều biết tu theo pháp môn Tịnh Độ và được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc.

  • Vài dòng về tiểu sử của cụ bà Nguyễn Thị Nhật, pháp danh Diệu Minh:

Cụ sinh năm 1923 tại Hà Đông Việt Nam, mất ngày 10 tháng 11 năm 2008 tại Telford, tiểu bang Pennsylvania, Hoa Kỳ, hưởng thọ 86 tuổi. Sinh thời cụ là một người rất hiền lương, làm nghề buôn bán hàng vải. Cụ góa bụa từ năm 52 tuổi, một mình tần tảo nuôi chín đứa con cho đến ngày khôn lớn. Cụ rất thành tâm và có lòng tin sâu đối với Phật pháp. Lúc còn ở quê nhà, cụ đi chùa lễ bái và dự những chuyến hành hương, nếu chùa chiền nào cần sự giúp đỡ, cụ lúc nào cũng sẵn sàng. Tâm từ thiện và lòng bố thí rất cao: bằng tiền tài, thực phẩm, quần áo… cụ thường xuyên giúp đỡ cô nhi viện của chùa và những người nghèo khổ. Ngay cả sau năm 1975, mặc dù gia đình đã suy sụp nhưng cụ vẫn tìm cách giúp đỡ những người khốn khổ, hoạn nạn hơn mình. Ở Mỹ, những ngày lễ chùa của cụ không bao giờ vắng mặt cụ. Và lúc nào đến chùa, dù bận cách mấy, cụ cũng rán tìm cho được Sư cô để ân cần dặn Sư cô là lúc nào cụ ra đi thì xin niệm Phật và tụng kinh cho cụ thật nhiều. Ở nhà, cụ niệm Phật theo thời khóa và hết lòng cầu vãng sanh Cực Lạc. Cụ mất đi làm cho con cháu vô cùng thương tiếc, nhưng cụ đã được vãng sanh Tây phương Cực Lạc, để lại một tấm gương sáng cho mọi người và con cháu, khiến họ phát khởi lòng tin sâu đậm vào pháp môn Tịnh Độ mà tinh tấn tu tập để tất cả đều được vãng sanh Cực Lạc.

Quý vị nào cần biết thêm chi tiết, xin gọi anh Nguyễn Phú Nhuận, con trai của cụ, số điện thoại là (627)772-9564.

11/27/08
Phật tử Chủng Hải
Nguồn: http://www.chuahoangphap.com.vn

Bà nội pháp sư Định Hoằng vãng sanh

Nam mô A Di Đà Phật!

Vô thường

Tác giả: Hòa thượng Thích Giác Thiện

Kinh vô thường

https://www.youtube.com/watch?v=5SITJRtcsHQ
Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Nghĩa Tịnh đời Đường
Việt dịch: Tại gia Bồ-Tát giới Ưu-bà-tắc Nguyên Thuận

Xưng tán Tam Bảo:

Cúi đầu quy y Vô Thượng Sĩ
Thường khởi hoằng thệ đại bi tâm
Cứu chúng hữu tình qua sinh tử
Tới được bình an chốn Niết-bàn

Đại thí, trì giới, nhẫn, tinh tấn
Nhất tâm phương tiện chính, tuệ, lực
Tự lợi, lợi tha thảy viên mãn
Nên gọi Điều Ngự Thiên Nhân Sư

Cúi đầu quy y diệu Pháp tạng
Nhị, Tam, Tứ, Ngũ lý viên minh
Thất, Bát khéo mở Tứ Đế môn
Hành giả đều đến vô vi bến

Pháp vân, Pháp vũ thấm quần sanh
Khéo trừ nhiệt não sạch chúng bệnh
Ai khó giáo hóa khiến điều phục
Tùy cơ dẫn đạo không gượng ép

Cúi đầu quy chân thánh chúng
Tám bậc thượng nhân khéo ly nhiễm
Chày trí kim cang phá tà sơn
Vĩnh đoạn muôn kiếp dây trói buộc

Xưa từ Lộc Uyển đến Song Lâm
Theo Phật trọn đời hoằng Chân Giáo
Mỗi tùy bản duyên hành hóa xong
Tro thân, diệt trí, tịch vô sanh

Cúi đầu cung kính Tam Bảo tôn
Đây là chánh nhân khéo phổ độ
Mê ngu chìm đắm nơi sanh tử
Thảy khiến ra khỏi đến Bồ-đề

Kệ:

Kiep vo thuong

Mọi người sinh ra đều phải chết
Dung nhan tươi đẹp sẽ tàn phai
Dũng mãnh cũng có ngày tật bệnh
Thoát được nào ai khắp thế gian?

Thậm chí cho dù núi Diệu Cao
Đến khi kiếp tận đều hoại diệt
Biển lớn sâu thẳm không bờ đáy
Nhưng rồi cũng phải khô cạn thôi

Đại địa mặt trời với mặt trăng
Tới lúc nào đó cũng tận diệt
Xưa nay chưa từng có việc gì
Không bị vô thường nuốt chửng đâu

Trên lên tận cõi Phi Phi Tưởng
Dưới đến thế gian Chuyển Luân Vương
Thất bảo uy trấn theo bên mình
Hàng ngàn con trai luôn vây quanh

Nhưng khi thọ mạng đã chấm dứt
Vụt thoáng hốt nhiên chẳng tạm đình
Trở lại phiêu dạt trong biển tử
Chịu nỗi thống khổ tùy nghiệp duyên

Tuần hoàn xoay vần trong Tam Giới
Ví như trục quay múc nước giếng
Cũng như con tằm làm tổ kén
Nhả tơ vây bọc nhốt chính mình

Dẫu đến vô thượng chư Thế Tôn
Và hàng Thanh Văn bậc Độc Giác
Còn phải xả bỏ thân vô thường
Hà huống phàm phu có thá chi

Song thân cha mẹ với vợ con
Tỷ muội huynh đệ cùng quyến thuộc
Mắt thấy chia lìa cảnh sống chết
Sao lại không sầu khóc thở than?

Cho nên khuyên bảo với mọi người
Hãy lắng nghe kỹ Pháp chân thật
Rồi cùng xả bỏ chốn vô thường
Và hãy thực hành Bất Tử Môn

Phật Pháp ví như nước cam lộ
Diệt trừ nhiệt não đắc thanh lương
Vì vậy nhất tâm hãy lắng nghe
Có thể tiêu trừ mọi não phiền

Kinh văn:

ST Phat Thich Ca 24

Tôi nghe như vầy:

Một thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc trong thành Xá-vệ. Khi ấy Đức Phật bảo các vị Tỳ-kheo:

“Ở thế gian có ba thứ mà không thể yêu mến, không thể sáng lạng, không thể nhớ mong, và không thể vừa ý. Những gì là ba:

Đó là già, bệnh, chết.

Này các Tỳ-kheo! Già, bệnh, chết ở thế gian, thật không thể yêu mến, thật không thể sáng lạng, thật không thể nhớ mong, và thật không thể vừa ý.

Nếu không có già, bệnh, chết ở thế gian, thì Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác, sẽ không xuất hiện ở đời để thuyết Pháp mà Ngài đã chứng đắc và phương pháp điều phục.

Cho nên phải biết rằng, già, bệnh, chết ở thế gian, thật không thể yêu mến, thật không thể sáng lạng, thật không thể nhớ mong, và thật không thể vừa ý. Do bởi ba việc này nên Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác, mới xuất hiện ở đời để thuyết Pháp mà Ngài đã chứng đắc và phương pháp điều phục.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn dùng kệ tuyên lại rằng:

“Ngoại sự huy hoàng rồi sẽ hoại
Nội thân suy biến cũng thế thôi
Duy có thắng Pháp chẳng diệt vong
Cho nên người trí hãy ngẫm suy

Già bệnh chết này đều cùng gớm
Hình dáng xấu xí thật đáng ghét
Dung mạo thanh xuân chỉ tạm thời
Không lâu tất sẽ khô héo phai

Cho dù sống đến trọn trăm năm
Kết cuộc chẳng thể thoát vô thường
Già bệnh chết khổ mãi đuổi theo
Luôn cho chúng sanh vô ích lợi”

Khi Thế Tôn thuyết Kinh này xong, chư Tỳ-kheo, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la cùng hết thảy đại chúng, họ đều sanh tâm đại hoan hỷ và tín thọ phụng hành.

Ai luôn cầu cảnh dục
Chẳng chịu làm việc lành
Không thấy chết cận kề
Làm sao hộ tánh mạng?

Khi mạng căn sắp đứt
Đốt xương thảy phân ly
Chúng khổ cùng chết đến
Lúc ấy hận ngậm ngùi

Hai mắt trợn trắng lên
Tử đao nghiệp lực giáng
Ý tưởng đầy kinh hoàng
Chẳng ai tương cứu giúp

Hổn hển ngực đập nhanh
Cổ khô thở đứt quãng
Tử thần đòi lấy mạng
Thân thuộc đành đứng trông

Các thức đều mờ mịt
Đi vào trong thành hiểm
Thân quyến thảy rời bỏ
Dây xiết lôi kéo đi

Dẫn đến Diêm-ma Vương
Tùy nghiệp mà thọ báo
Nhân lành sanh thiện đạo
Ác nghiệp đọa địa ngục

Mắt sáng nào bằng tuệ
Tối tăm nào bằng si
Có bệnh nào hơn oán
Có sợ nào hơn chết

Có sanh ắt phải tử
Tạo tội thân chịu khổ
Hãy nên giữ ba nghiệp
Hằng luôn tu phước trí

Quyến thuộc đều rời xa
Tài vật người chiếm đoạt
Chỉ căn lành của mình
Tư lương nơi hiểm đạo

Như cây bên ven đường
Tạm nghỉ chẳng ở lâu
Ngựa xe cùng vợ con
Không lâu cũng như vậy

Như chim đậu qua đêm
Sáng sớm bay mỗi hướng
Chết đến lìa thân quyến
Biệt ly cũng như vậy

Duy Phật có đại giác
Là nơi chân quy y
Y Kinh ta lược giảng
Người trí hãy tư duy

Trời người dạ-xoa a-tu-la
Người đến nghe Pháp nên chí tâm
Hộ trì Phật Pháp khiến trường tồn
Mỗi người cần hành Thế Tôn giáo

Chúng sanh đến đây lắng nghe Pháp
Hoặc ở trên đất hay không trung
Thường vì nhân thế khởi từ tâm
Ngày đêm tự mình trụ nơi Pháp

Nguyện các thế giới luôn an ổn
Vô biên phước trí lợi quần sanh
Bao nhiêu nghiệp tội thảy tiêu trừ
Rời xa chúng khổ về tịch diệt

Luôn dùng giới hương thoa tịnh thể
Thường mang thiền định khoác vào thân
Bồ-đề diệu hoa biến trang nghiêm
Tùy nơi trú xứ thường an lạc

Hết.

Thai sen 1

Sông ái sóng ngàn thước
Biển khổ vạn trùng xa
Muốn thoát Ta Bà khổ
Sớm gấp niệm Di Đà
Nam mô A Di Đà Phật!

Thân người khó được

Trích: Phẩm Không phóng dật, Chương Một pháp, Kinh tăng chi bộ

Kinh-Vo-Thuong

  1. Ví như trong cõi Jambudipa (Diêm-phủ-đề) này, số ít là các khu vườn khả ái, các khu rừng khả ái, các vùng đất khả ái, các hồ ao khả ái, còn nhiều hơn là các chỗ đất cao đất thấp, các con sông khó lội qua, các khu vực rậm rạp, những gậy gộc, gai góc, các núi non lởm chởm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các loài hữu tình sanh trên đất liền, và số nhiều là các loài hữu tình sanh ở trong nước.
  2. …Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các loài hữu tình được tái sanh giữa loài Người, và nhiều hơn là các loài hữu tình được tái sanh ra ngoài loài Người. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các loài hữu tình ấy được tái sanh ở các quốc độ trung ương, và nhiều hơn các loài hữu tình phải tái sanh ở quốc độ biên địa, giữa các loài man rợ không biết nhận thức.
  3. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh có trí tuệ, nhanh trí, không điếc, không câm, có khả năng suy xét ý nghĩa của những lời khéo thuyết hay vụng thuyết. Và nhiều hơn là các chúng sanh có ác trí tuệ, chậm trí, điếc và câm, không có khả năng suy xét ý nghĩa của những lời khéo thuyết hay vụng thuyết.
  4. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh đầy đủ cặp mắt trí tuệ của bậc Thánh. Và nhiều hơn là các chúng sanh bị chìm đắm trong vô minh si ám.
  5. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh được thấy Như Lai. Và nhiều hơn là các chúng sanh không được thấy Như Lai.
  6. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh được nghe pháp luật do Như Lai thuyết giảng. Và nhiều hơn là các chúng sanh không được nghe pháp luật do Như Lai thuyết giảng.
  7. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh, sau khi nghe, thọ trì pháp. Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi nghe không thọ trì pháp.
  8. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh quán sát ý nghĩa các pháp chúng học thuộc lòng. Và nhiều hơn là các chúng sanh không quán sát ý nghĩa các pháp chúng học thuộc lòng.
  9. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh, sau khi hiểu được ý nghĩa, sau khi hiểu được pháp, thực hành đúng theo pháp và tùy pháp. Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi hiểu được ý nghĩa, sau khi hiểu được pháp, không thực hành đúng theo pháp và tùy pháp.
  10. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh được khích động bởi những vấn đề đáng được khích động, và nhiều hơn là các chúng sanh không được khích động bởi những vấn đề đáng được khích động.
  11. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh, sau khi được khích động, như lý tinh tấn. Và nhiều hơn các chúng sanh, sau khi được khích động, không như lý tinh tấn.
  12. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh, sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được định, được nhất tâm. Và nhiều hơn các chúng sanh, sau khi từ bỏ pháp sở duyên, không được định, không được nhất tâm.
  13. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh được đồ ăn tối thắng, được vị ăn tối thắng. Và nhiều hơn, là các chúng sanh không được đồ ăn tối thắng, không được vị ăn tối thắng, chỉ nuôi sống với các áo và đồ ăn lượm lặt.
  14. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh đã được vị ngọt của mục đích, vị ngọt của pháp, vị ngọt của giải thoát. Và nhiều hơn là các chúng sanh không được vị ngọt của mục đích, vị ngọt của pháp, vị ngọt của giải thoát. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ là những người được vị ngọt của mục đích, vị ngọt của pháp, vị ngọt của giải thoát”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

15-17. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong cõi Diêm-phủ-đề này, số ít là các khu vườn khả ái, các khu rừng khả ái, các vùng đất khả ái, các hồ ao khả ái. Và nhiều hơn là các chỗ đất cao đất thấp, các con sông khó lội qua, các khu vực rậm rạp những gậy gộc gai góc, các núi non lởm chởm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là chúng sanh sau khi chết từ loài Người được tái sanh trong loài Người. Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ loài Người, bị tái sanh ở địa ngục… ở các loại bàng sanh… ở cõi ngạ quỷ.

18-20. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh, sau khi chết từ loài Người được tái sanh giữa chư Thiên. Còn nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ loài Người bị tái sanh ở địa ngục… bị tái sanh ở loài bàng sanh… bị tái sanh ở cõi ngạ quỷ.

21-23. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh, sau khi chết từ chư Thiên được tái sanh giữa chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ chư Thiên bị tái sanh ở địa ngục… ở các loại bàng sanh… ở cõi ngạ quỷ.

24-26. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh, sau khi chết từ chư Thiên được tái sanh giữa loài Người. Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ chư Thiên bị tái sanh ở địa ngục… ở các loại bàng sanh… ở cõi ngạ quỷ.

27-29. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh, sau khi chết từ địa ngục, được tái sanh giữa loài Người. Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ cõi địa ngục bị tái sanh ở cõi địa ngục… ở các loài bảng sanh… ở cõi ngạ quỷ.

30-32. …Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh, sau khi chết từ cõi địa ngục, được sanh lên chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ cõi địa ngục bị tái sanh ở cõi địa ngục… ở các loài bàng sanh… ở cõi ngạ quỷ.

33-35. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh, sau khi chết từ loài bàng sanh bị tái sanh giữa loài Người, Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ các loài bàng sanh bị tái sanh ở địa ngục… ở các loài bàng sanh… ở cõi ngạ quỷ.

36-38. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh, sau khi chết từ các loài bàng sanh được tái sanh giữa chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ các loài bàng sanh được tái sanh ở cõi địa ngục… ở các loài bàng sanh… ở cõi ngạ quỷ.

39-41. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh, sau khi chết ở cõi ngạ quỷ được tái sanh giữa các loài Người. Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi chết ở cõi ngạ quỷ bị tái sanh ở cõi địa ngục… ở các loài bàng sanh… ở cõi ngạ quỷ.

42-44. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, số ít là các chúng sanh, sau khi chết ở cõi ngạ quỷ được tái sanh giữa chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi chết, ở cõi ngạ quỷ bị tái sanh ở cõi địa ngục… ở các loài bàng sanh… ở cõi ngạ quỷ.

Thân người thật khó được, không tu uổng phí kiếp người.

vang sanh

Người ơi! Sớm thoát khỏi Ta Bà
Trẻ tuổi rồi đây cũng sẽ già
Địa ngục không đường sao lại tới
Thiên đường có lối chẳng hề qua

Quoanh năm bận bịu đàn con dại
Sớm tối chăm lo đám ruộng nhà
Chẳng biết phù sinh đời tạm giả
Tìm về Cực Lạc khỏe lòng ta!

Nam mô A Di Đà Phật.

 

Nghi vấn trong niệm Phật

buddhalotus.jpg

  1. Có cần dịch lại Thánh hiệu đức Phật A Di Đà hay niệm Thánh hiệu theo Phạn âm không?

Danh hiệu Đức Phật A Di Đà theo tiếng Phạn là: अमिताभ (Amitābha),  dịch sang chữ Hán:”阿彌陀佛” – người Trung Quốc đọc bính âm là “Ēmítuó Fó”, dịch sang tiếng Nhật: “阿弥陀如来”  – Người Nhật đọc là Amida Nyorai. Tại Việt Nam hiện nay, theo truyền thống được các bậc cao tăng, cổ đức nước nhà truyền lại, chúng ta vẫn niệm “A Di Đà Phật” theo phiên âm từ chữ Hán “阿彌陀佛”.

Tìm hiểu trong lịch sử thì mỗi dân tộc, thậm chí là mỗi địa phương trong một nước khi niệm Phật âm thanh phát ra có khác nhau, phiên âm cũng có khác nhưng nước nào cũng có rất nhiều các hành giả được vãng sinh, bản thân tôi khi tham dự những ca hộ niệm từ trước tới giờ đều niệm A Di Đà Phật và đã chứng kiến những ca thành công các cụ đạt được thoại tướng đẹp như đang ngủ, thân thể mềm mại. Thánh hiệu của đức Phật A Di Đà “bất khả tư nghị”, đã “bất khả tư nghị – không thể nghĩ bàn” được thì chúng ta còn bàn luận làm chi. Nước Việt Nam ta cũng là một xứ sở bồ tát có nhân duyên lớn với Phật pháp trước cả xứ Trung Hoa, nơi thị hiện của rất nhiều bậc cao tăng đại đức và những nhân vật kiệt xuất trong Phật giáo, bậc thiện tri thức tài giỏi về Phật pháp, về Hán Văn, Phạn Văn cũng không thiếu, nếu như niệm A Di Đà Phật không đúng hay cần phải niệm theo cách khác mới hiệu quả thì chắc hẳn các ngài đã sửa lại rồi nên chúng ta có thể yên tâm.

Tôi trộm nghĩ rằng các Đức Như Lai  vốn vô ngã, không đất nước, không dòng tộc, chẳng sinh chẳng diệt, hóa độ phương nào thì phương tiện mà thị hiện sinh ra ở nước đó, dòng họ đó, mang tên  như thế, nói ngôn ngữ như thế, giống như diễn viên nhập vào vai diễn, tất cả chỉ là phương tiện.  Chư Phật, Thánh lại có tha tâm thông, chẳng cần nói cũng tự hiểu tâm ý nhau mà không hề  bị chướng ngại bởi không gian, vốn không cần phải dùng chữ viết và danh tự nhưng để giáo hóa những chúng sinh giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ thì thị hiện ra hình tướng và danh tự  cho chúng ta dễ đối đáp, tiện bề tu tập.  Xem trong kinh điển, mỗi pháp hội Đức Phật Thích Ca thuyết pháp đều có trời, rồng, a tu la, khẩn nana, ma hầu la già, nhân, phi nhân cùng dự, có loài hiện thân, có loài ẩn thân, còn có các vị Thánh giả ở các thế giới khác đến nghe vậy mà Đức Phật Thích Ca nói cùng một câu nhưng tất cả đều tự hiểu theo ngôn ngữ của mình đủ thấy rằng Phật pháp không bó hẹp trong ngôn ngữ và văn tự. Trong Tứ Phần Luật, đức Phật Thích Ca đã từ chối đề nghị của một Bà La Môn yêu cầu dùng chữ viết của giai cấp cao quý Bà La Môn làm chữ viết kinh Phật, truyền bá giáo lý của Phật, ngài bảo “Hãy để mọi người tùy theo ngôn ngữ, quốc tục của mình để giải nghĩa, tụng đọc và học kinh Phật”.  Như vậy đâu phải vì Đức Thích Ca thị hiện ở xứ Ấn Độ, nói tiếng Ấn Độ cổ mà chúng ta phải học kinh Phật, tụng kinh Phật hay niệm Phật bằng tiếng Ấn Độ cổ. Đây là câu trả lời rõ ràng cho nghi vấn trên!

Như vậy, điều quan trọng trong hành trì không phải ở sự phiên âm mà ở tín, nguyện, hạnh của chúng ta có chắc thật hay không? tâm ta có thanh tịnh không? Có những suy nghĩ trên là do chúng ta đang vọng tâm, đang gặp chướng ngại, tâm nghi hoặc như vậy sẽ ảnh hưởng đến Tín và Hạnh.

Có một câu truyện ngụ ngôn Phật giáo, một bà cụ trì chú nhiều năm và bà nhận được nhiều lợi ích từ việc đó. Một hôm có vị tăng đi qua nghe thấy bà tụng chú, vị tăng nhận thấy trong đó sai vài từ liền chỉ cho bà, từ hôm đó, mỗi khi tụng chú đến những từ ấy bà phân vân và không còn thấy được những lợi lạc như trước kia nữa. Chú chỉ là phương tiện , không quan trọng lắm việc bà lão hiểu hay không hiểu, việc vướng mắc trên đã khiến bà mất định, tâm không còn thanh tịnh khi tụng nữa nên lợi lạc mất đi. Khác với thế trí biện thông của thế gian phát sinh do học rộng, nghe nhiều và tư duy, biện luận,… trí tuệ giác ngộ lưu xuất từ chân tâm thanh tịnh, từ tâm thanh tịnh mà phát sinh, khi tâm không thanh tịnh thì trí tuệ giác ngộ cũng chẳng phát sinh, nếu không phải thế ắt hẳn những nhà bác học, chính trị gia kiệt xuất đã trở thành những bậc giác ngộ rồi. Trong Phật pháp, tất cả chỉ là phương tiện, dù thiền, dù kinh, chú hay niệm Phật đều chỉ là phương tiện để làm tâm ta thanh tịnh. Không có phương tiện nào sai, chỉ có phương tiện nào phù hợp hơn, tiện lợi hơn.

Trong trường hợp chúng ta tu một mình thì niệm theo tiếng nước nào không sai, cách nào khiến ta dễ định tâm thì ta niệm, nếu niệm A Di Đà Phật mà thấy hợp thì niệm A Di Đà Phật, nếu niệm A Mi Đà Phật mà thấy dễ định tâm thì niệm A Mi Đà Phật hoặc giả ta thấy niệm thánh hiệu theo tiếng Phạn  dễ chú tâm hơn thì cứ niệm tiếng Phạn. Những cách niệm trên giống như ta gọi đức thân sinh của mình là: cha, là bố, là ba, là phụ thân,vv… không có cách nào không được. Niệm Phật vốn vô tướng, chỉ quan trọng trong tâm đang nghĩ tưởng đến Phật, miệng đang xướng lên thánh Hiệu của Phật. Không có cách niệm nào sai, vấn đề là dùng cách nào tiện lợi hơn, ta dễ đạt được sự định tâm hơn.

Tuy nhiên, phải chú ý rằng nếu chúng ta niệm theo cách khác biệt với truyền thống thì khó hòa hợp được khi cộng tu rộng rãi trong các đạo tràng và trong trường hợp công phu của ta chưa đủ được tự tại vãng sinh (điều này gần như là chắc chắn) phải nhờ bạn đồng tu hộ niệm thì ta dễ gặp chướng ngại, bởi những người trợ niệm không quen niệm như ta, nếu yêu cầu họ niệm như ta thì tâm họ cũng không thanh tịnh, mà họ cứ niệm theo cách của họ còn ta cứ niệm theo cách của ta thì buổi hộ niệm không được thanh tịnh, việc hộ niệm khó đạt được kết quả và ta sẽ lỡ mất cơ hội giải thoát. Nếu ta tập cho mình hành trì theo cách truyền thống và phổ biến (niệm A Di Đà Phật) thì ta dễ hòa hợp khi cộng tu, có thể tham gia trợ niệm rộng rãi và cũng dễ dàng cho mọi người khi trợ niệm chính ta trong thời khắc lâm chung.

Xét về  lợi ích tổng thể, tuy có thể niệm Phật theo các cách phiên âm khác nhưng không nên làm thế. Các bậc cổ đức đạo hạnh đã để lại cho chúng ta một truyền thống tốt đẹp và thuần nhất về  niệm Thánh hiệu A Di Đà Phật, được minh chứng bằng thành tựu của bao hành giả trong quá khứ và hiện tại, tạo nên một tiêu điểm duy nhất để tất cả hành giả Tịnh độ chú tâm vào, mọi người đều có thể niệm đồng nhất cùng nhau, mọi đạo tràng đều thống nhất như nhau, dù chúng ta đến vùng miền nào cũng có thể tham gia với đạo tràng ở đó tu tập hay hộ niệm và bất cứ ai, ai cũng có thể niệm A Di Đà Phật hộ niệm cho ta khi cần. Đó là một hệ thống thống nhất và hoàn chỉnh, một cỗ máy đồng bộ để dễ dàng phối hợp giải cứu nhau. Việc đưa ra những cách niệm Phật mới làm mất sự thống nhất và đồng bộ đó, gây chướng ngại, nghi hoặc cho người hành trì. Đối với một quốc gia, càng chia nhỏ ra nhiều phần càng suy yếu, một cái máy nếu mỗi bộ phận làm theo một tiêu chuẩn khác nhau thì hoạt động hay trục trặc và khó thay khó sửa. Những điều cao minh bao giờ cũng rất giản dị và càng đơn giản thì càng linh động và phổ cập. Đề xuất nhiều cách niệm Phật quá không phải là điều tốt cho chúng ta và cho pháp môn.

2. Niệm “A Di Đà Phật” hay niệm “Nam mô A Di Đà Phật”?

Nhiều người sợ niệm “A Di Đà Phật” thì bất kính, phải niệm đủ “Nam mô A Di Đà Phật” mới trang trọng. Những băng đĩa niệm Phật hiện nay cũng có đủ cả niệm “A Di Đà Phật” và “Nam mô A Di Đà Phật” theo nhiều cách và nhịp độ khác nhau. Không cách nào sai,  vấn đề  là khi nào và dùng cách nào phù hợp hơn?

Trong  Phật thuyết Vô Lượng Thọ trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng giác kinh, Nguyện thứ 18 của đức Phật A Di Đà chỉ đưa ra điều kiện là muốn vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc thì khi lâm chung niệm được từ 1 đến 10 niệm danh hiệu của ngài (nghĩa là niệm được “A Di Đà Phật” từ 1 đến 10 lần) sẽ được vãng sinh, không nói rằng phải niệm được từ 1 đến 10 niệm “Nam mô A Di Đà Phật” mới được vãng sinh. Đại sư Liên Trì – vị tổ thứ 8 của tịnh tông Trung Hoa cũng dạy bản thân ngài chỉ niệm “A Di Đà Phật”, hòa thượng Tịnh Không cũng dạy thường niệm “A Di Đà Phật”. Như vậy niệm ” A Di Đà Phật” là đúng như kinh điển chứ không sai.  Trong thời khắc lâm chung, người ta như ngọn đèn dầu sắp cạn, lại gặp cận tử nghiệp như gió to thổi tới, hơi thở và sức lực đã cạn, người ngày nay thậm chí còn hôn mê khi lâm chung, như vậy phải lấy việc niệm được 1-10 danh hiệu Phật làm điều quan trọng, càng tiết kiệm được hơi sức để chóng hoàn thành càng tốt, niệm A Di Đà Phật thì ngắn và nhanh hơn niệm Nam mô A Di Đà Phật, vẫn đúng với bản nguyện của Đức Phật A Di Đà. Hàng ngày ta niệm Phật chính là để chuẩn bị cho việc niệm Phật trong hơi thở cuối cùng, vì thế khi hành trì chỉ nên thuần nhất niệm A Di Đà Phật, các băng đĩa niệm Phật cũng lại như vậy, thuần nhất một danh hiệu, một nhịp độ, một cách niệm. Chớ có lo sự bất kính, sự trang trọng là ở tâm ta, tâm thanh tịnh kính trọng quan trọng hơn lời nói và Đức Phật cũng chẳng chấp chúng ta trong giờ sinh tử, như việc người cha đang cấp cứu đứa con trong phút hiểm nguy thì chẳng câu lệ tiểu tiết thường tình.

Từ ” Nam mô” hay “Na mô” nghĩa là quy mạng, là nương về chứ không phải là danh hiệu Phật. Khi bắt đầu một thời khóa tu tập hay khi lễ Phật thì ta niệm đầy đủ “Nam mô A Di Đà Phật”, còn khi bắt đầu hành trì niệm Phật thì ta chỉ niệm “A Di Đà Phật” mà thôi. Các bậc cổ đức xưa kia, căn cơ thâm hậu, biết trước giờ lâm chung, tỉnh táo đến hơi thở cuối cùng, sinh tử rất tự tại vì thế các ngài niệm đủ “Nam mô A Di Đà Phật” cũng chẳng chướng ngại gì, nhưng ta không được như các ngài, chỉ mong niệm đủ được 10 câu “A Di Đà Phật” mà thôi. Đừng bắt chước theo vì không hợp với căn cơ của mình.

3. Nên nhiệm Phật theo nhịp độ và giai điệu thế nào?

Việc niệm A Di Đà Phật mục đích là để vãng sinh khi xả bỏ báo thân, không phải là nghệ thuật âm nhạc hay việc mang tính thưởng thức. Điều tối quan trọng là đạt được định tâm, định lực trong câu niệm Phật liên tục và làm sao để mọi người dễ hộ niệm cho ta khi lâm chung, cách niệm Phật của ta và mọi người đồng nhất, đơn giản, dễ hòa nhập không tạo sự bất đồng. Chính vì những lẽ đó nên việc thống nhất một cách niệm Phật giữa mọi người, giữa mọi đạo tràng, mọi ban hộ niệm là cần thiết, và cách đó phải là cách đơn giản nhất, tự nhiên nhất, phù hợp nhất với đông đảo quần chúng, tránh việc đề xuất những cách niệm khác nhau. Nếu niệm Phật theo âm điệu du dương thì  tai nghe mới hay, lòng mới thích  niệm Phật là vọng tâm, do việc nhĩ căn của ta đã quen với khoái lạc của âm thanh. Nếu buông thả mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý theo những khoái lạc thường ngày nó ưa thích thì tu tập không thành tựu được, giả sử khi ta đến một đạo tràng cộng tu, ở đó niệm không hay ta nghe liền khó chịu, khi ta lâm chung nếu người trợ niệm không niệm theo giai điệu ta thích, âm không được du dương ta liền sân hận, như thế sẽ đọa.

Niệm Phật mục đích tối hậu là để vãng sinh, lợi ích hiện tiền là hàng phục phiền não, chế ngự thất tình lục dục, và phải đảm bảo sự thống nhất, dễ hộ niệm, dễ cộng tu, vì vậy hãy dùng cách niệm Phật chân phương, giản dị, và tự nhiên như lúc nói bình thường, đừng để nhĩ căn và tâm bị trói buộc vào những cách niệm Phật du dương. Khi ta mới tu tập, tai đang quen nghe âm nhạc, tạm thời có thể dùng các băng niệm Phật du dương thay dần cho băng ca nhạc nhưng sau đó phải nhanh chóng chuyển dần về cách niệm Phật chân phương, nghe băng niệm Phật chân phương. Lâu rồi dùng cách chân phương mà quen tai, quen niệm, tâm bình an không thấy hay dở thì lúc đó đã như người trường trai không còn bị lôi kéo bởi sơn hào hải vị nữa, nhĩ căn đã thanh tịnh hơn rồi.

4. Đối với những người niệm Phật theo cách phiên âm khác và theo nhịp điệu khác ta phải làm sao?

Chúng ta có thể chia sẻ với họ suy nghĩ của mình về  sự bình đẳng trong cách niệm thánh hiệu Phật A Di Đà, không cách nào sai, nhưng khác nhau ở tính tiện dụng và nhân duyên của mỗi người. Việc quyết định tiếp tục hành trì theo cách nào vẫn là quyền của mỗi người và dù thế nào chúng ta cũng nên hoan hỷ cho nhau chứ đừng chỉ trích nhau bởi tất cả đang cùng hướng tới mục tiêu vãng sinh Cực Lạc, đều là bạn đồng tu Tịnh độ. Sự chia rẽ, chỉ trích là điều cần phải tránh trong thời đại đấu tranh kiên cố này. Khi tham dự buổi đồng tu với đạo tràng nào, ta nên tôn trọng cách niệm Phật ở đạo tràng đó, niệm theo cách niệm ở đạo tràng đó mà tránh gây chướng ngại cho nhau. Tuy vậy vẫn có thể chia sẻ suy nghĩ của mình một cách hòa nhã vào lúc thích hợp nếu  cách hành trì ở đó có sự bất tiện, tuy vậy không nên miễn cưỡng nhau. Tượng tự như vậy, khi tham gia hộ niệm cho người nào, ta nên tìm hiểu cách niệm Phật của họ lúc bình thường và niệm theo để tránh chướng ngại cho họ, để giúp họ chú tâm niệm Phật được thanh tịnh, tập trung nhất.

Trong sự tu tập hàng ngày ta nên tuân theo và khuyến khích mọi người hành trì theo cách của cổ đức truyền lại là cách chính tắc đã được các bậc tiền bối đạo cao đức trọng công nhận và truyền bá, đừng nên lập ra cách niệm mới và trong trường hợp ta thích niệm theo cách khác truyền thống thì hãy giữ cho riêng mình mà chẳng nên phổ cập ra rộng rãi để tránh làm loạn tâm chúng sinh vì cách của ta không được các vị tổ sư đủ trí tuệ và đức hạnh ấn chứng, nó có thể lợi lạc với ta nhưng chưa chắc đã phù hợp với mọi người. Sự lưu hành nhiều cách niệm Phật khác nhau dễ tạo nên mâu thuẫn trong cộng đồng tu tập và tạo nên nhiều sự bất tiện khi cộng tu và hộ niệm.

Nam mô A Di Đà Phật.

PMNP.

 

Phật học vấn đáp _ Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam

Tịnh độ vấn đáp _ pháp sư Tịnh Không

Hỏi đáp về trợ niệm lâm chung của pháp sư Tịnh Không_trọn bộ (1 phần)

Trích lục các bài giảng hộ niệm lâm chung của pháp sư Tịnh Không _ Phần 21 – 31

Trích lục các bài giảng trợ niệm lâm chung của pháp sư Tịnh Không _ Phần 11 – 20

Trích lục các bài giảng trợ niệm lâm chung của pháp sư Tịnh Không_Phần 1 – 10

Kinh A Di Đà tiếng Phạn SUKHĀVATĪVYŪHAḤ (SAṂKṢIPTAMĀTṚKĀ)

sukhāvatīvyūhaḥ |
(saṃkṣiptamātṛkā |)

|| namaḥ sarvajñāya ||

evaṃ mayā śrutam | ekasmin samaye bhagavān śrāvastyāṃ viharati sma jetavane’nāthapiṇḍadasyārāme mahatā bhikṣusaṃghena sārdhamardhatrayodaśabhirbhikṣuśatairabhijñātābhijñātaiḥ sthavirairmahāśrāvakaiḥ sarvairarhadbhiḥ | tadyathā-sthavireṇa ca śāriputreṇa, mahāmaudgalyāyanena ca mahākāśyapena ca mahākapphiṇena ca mahākātyāyanena ca mahākauṣṭhilena ca revatena ca śuddhipanthakena ca nandena ca ānandena ca rāhulena ca gavāṃpatinā ca bharadvājena ca kālodayinā ca vakkulena ca aniruddhena ca | etaiścānyaiśca saṃbahulairmahāśrāvakaiḥ | saṃbahulaiśca bodhisattvairmahāsattvaiḥ | tadyathā mañjuśriyā ca kumārabhūtena, ajitena ca bodhisattvena, gandhahastinā ca bodhisattvena, nityodyuktena ca bodhisattvena, anikṣiptadhureṇa ca bodhisattvena | etaiścānyaiśca saṃbahulairbodhisattvairmahāsattvaiḥ | śakreṇa ca devānāmindreṇa, brahmaṇā ca sahāṃpatinā | etaiśvānyaiśca saṃbahulairdevaputranayutaśatasahasraiḥ || 1 ||

tatra khalu bhagavānāyuṣmantaṃ śāriputramāmantrayati sma-asti śāriputra paścime digbhāge ito buddhakṣetraṃ koṭiśatasahasraṃ buddhākṣetrāṇāmatikramya sukhāvatī nāma lokadhātuḥ | tatra amitāyurnāma tathāgato’rhan samyaksaṃbuddha etarhi tiṣṭhati dhriyate yāpayati, dharmaṃ ca deśayati tatkiṃ manyase śāriputra kena kāraṇena sā lokadhātuḥ sukhāvatītyucyate ? tatra khalu punaḥ śāriputra sukhāvatyāṃ lokadhātau nāsti sattvānāṃ kāyaduḥkhaṃ na cittaduḥkham | apramāṇānyeva sukhakāraṇāni | tena kāraṇena sā lokadhātuḥ sukhāvatītyucyate || 2 ||

punaraparaṃ śāriputra sukhāvatī lokadhātuḥ saptabhirvedikābhiḥ saptabhistālapaṅktibhiḥ kiṅkiṇījālaiśca samalaṃkṛtā samantato’nupatikṣiptā citrā darśanīyā caturṇāṃ ratnānām | tadyathā suvarṇasya rūpyasya vaiḍūryasya sphaṭikasya | evaṃrūpaiḥ śāriputra buddhakṣetraguṇavyūhaiḥ samalaṃkṛtaṃ tadbuddhakṣetram || 3 ||

punaraparaṃ śāriputra sukhāvatyāṃ lokadhātau saptaratnamayyaḥ puṣkariṇyaḥ-tadyathā suvarṇasya rūpyasya vaiḍūryasya sphaṭikasya lohitamuktasya aśmagarbhasya musāragalvasya saptamasya ratnasya | aṣṭāṅgopetavāriparipūrṇāḥ samatīrthakāḥ kākapeyā suvarṇavālukāsaṃstṛtāḥ | tāsu ca puṣkariṇīṣu samantāccaturdiśaṃ catvāri sopānāni citrāṇi darśanīyāni caturṇāṃ ratnānām-tadyathā suvarṇasya rūpyasya vaiḍūryasya sphaṭikasya | tāsāṃ ca puṣkariṇīnāṃ samantādratnavṛkṣā jātāścitrā darśanīyāḥ saptānāṃ ratnānām-tadyathā suvarṇasya rūpyasya vaiḍūryasya sphaṭikasya lohitamuktasyāśmagarbhasya musāragalvasya saptamasya ratnasya | tāsu ca puṣkariṇīṣu santi padmāni jātāni nīlāni nīlavarṇāni nīlanirbhāsāni nīlanidarśanāni | pītāni pītavarṇāni pītanirbhāsāni pītanidarśanāni | lohitāni lohitavarṇāni lohitanirbhāsāni lohitanidarśanāni | avadātāni avadātavarṇāni avadātanirbhāsāni avadātanidarśanāni | citrāṇi citravarṇāni citranirbhāsāni citranidarśanāni śakaṭacakrapramāṇapariṇāhāni | evaṃrūpaiḥ śāriputra buddhakṣetraguṇavyūhaiḥ samalaṃkṛtaṃ tadbuddhakṣetram || 4 ||

punaraparaṃ śāriputra tatra buddhakṣetre nityapravāditāni divyāni tūryāṇi | suvarṇavarṇā ca mahāpṛthivī ramaṇīyā | tatra ca buddhakṣetre triṣkṛtvo rātrau triṣkṛtvo divasasya puṣpavarṣaṃ pravarṣati divyānāṃ māndāravapuṣpāṇām | tatra ye sattvā upapannāste ekena purobhaktena koṭiśatasahasraṃ buddhānāṃ vandanti anyāllokadhātūn gatvā | ekaikaṃ ca tathāgataṃ koṭiśatasahasrābhiḥ puṣpavṛṣṭibhirabhyavakīrya punarapi tāmeva lokadhātumāgacchanti divāvihārāya | evaṃrūpaiḥ śāriputra buddhakṣetraguṇavyūhaiḥ samalaṃkṛtaṃ tadbuddhakṣetram || 5 ||

punaraparaṃ śāriputra tatra buddhakṣetre santi haṃsāḥ krauñcā mayūrāśca | te triṣkṛtvo rātro triṣkṛtvo divasasya saṃnipatya saṃgītiṃ kurvanti sma, svakasvakāni ca rutāni pravyāharanti | teṣāṃ pravyāharatāmindriyabalabodhyaṅgaśabdo niścarati | tatra teṣāṃ manuṣyāṇāṃ taṃ śabdaṃ śrutvā buddhamanasikāra utpadyate, dharmamanasikāra utpadyate, saṃghamanasikāra utpadyate | tatkiṃ manyase śāriputra tiryagyonigatāste sattvāḥ ? na punarevaṃ draṣṭvyam | tatkasmāddhetoḥ ? nāmāpi śāriputra tatra buddhakṣetre nirayāṇāṃ nāsti, tiryagyonīnāṃ yamalokasya nāsti | te punaḥ pakṣisaṃghāstenāmitāyuṣā tathāgatena nirmitā dharmaśabdaṃ niścārayanti | evaṃrūpaiḥ śāriputra buddhakṣetraguṇavyūhaiḥ samalaṃkṛtaṃ tadbuddhakṣetram || 6 ||

punaraparaṃ śāriputra tatra buddhakṣetre tāsāṃ ca tālapaṅktīnāṃ teṣāṃ ca kiṅkiṇījālānāṃ vāteritānāṃ valgurmanojñaḥ śabdo niścarati-tadyathāpi nāma śāriputra koṭiśatasahasrāṅgikasya divyasya tūryasya cāryaiḥ saṃpravāditasya valgurmanojñaḥ śabdo niścarati, evameva śāriputra tāsāṃ ca tālapaṅktīnāṃ teṣāṃ ca kiṅkiṇījālānāṃ vāteritānāṃ valgurmanojñaḥ śabdo niścarati | tatra teṣāṃ manuṣyāṇāṃ taṃ śabdaṃ śrutvā buddhānusmṛtiḥ kāye saṃtiṣṭhati, dharmānusmṛtiḥ kāye saṃtiṣṭhati, saṃghānusmṛtiḥ kāye saṃtiṣṭhati | evarūpaiḥ śāriputra buddhakṣetraguṇavyūhaiḥ samalaṃkṛtaṃ tadbuddhakṣetram || 7 ||

tatkiṃ manyase śāriputra kena kāraṇena sa tathāgato’mitāyurnāmocyate ? tasya khalu punaḥ śāriputra tathāgatasya teṣāṃ ca manuṣyāṇāmaparimitamāyuḥpramāṇam | tena kāraṇena sa tathāgato’mitāyurnāmocyate | tasya ca śāriputra tathāgatasya daśa kalpā anuttarāṃ samyaksaṃbodhimabhisaṃbuddhasya || 8 ||

tatkiṃ manyase śāriputra kena kāraṇena sa tathāgato’mitābho nāmocyate ? tasya khalu punaḥ śāriputra tathāgatasyābhā apratihatā sarvabuddhakṣetreṣu | tena kāraṇena sa tathāgato’mitābho nāmocyate | tasya ca śāriputra tathāgatasyāprameyaḥ śrāvakasaṃgho yeṣāṃ na sukaraṃ pramāṇamākhyātuṃ śuddhānāmarhatām | evaṃrūpaiḥ śāriputra buddhakṣetraguṇavyūhaiḥ samalaṃkṛtaṃ tadbuddhakṣetram || 9 ||

punaraparaṃ śāriputra ye amitāyuṣastathāgatasya buddhakṣetre sattvā upapannāḥ śuddhā bodhisattvā avinivartanīyā ekajātipratibaddhāsteṣāṃ śāriputra bodhisattvānāṃ na sukaraṃ pramāṇamākhyātumanyatrāprameyāsaṃkhyeyā iti gacchanti | tatra khalu punaḥ śāriputra buddhakṣetre sattvaiḥ praṇidhānaṃ kartavyam | tatkasmāddhetoḥ ? yatra hi nāma tathārūpaiḥ satpuruṣaiḥ saha samavadhānaṃ bhavati | nāvaramātrakeṇa śāriputra kuśalamūlena amitāyuṣastathāgatasya buddhakṣetre sattvā upapadyante | yaḥ kaścicchāriputra kulaputro vā kuladuhitā vā tasya bhagavato’mitāyuṣastathāgatasya nāmadheyaṃ śroṣyati, śrutvā ca manasikariṣyati, ekarātraṃ vā dvirātraṃ vā trirātraṃ vā catūrātraṃ vā pañcarātraṃ vā ṣaḍrātraṃ vā saptarātraṃ vāvikṣiptacitto manasikariṣyati, yadā sa kulaputro vā kuladuhitā vā kālaṃ kariṣyati, tasya kālaṃ kurvataḥ so’mitāyustathāgataḥ śrāvakasaṃghaparivṛto bodhisattvaguṇapuraskṛtaḥ purataḥ sthāsyati | so’viparyastacittaḥ kālaṃ kariṣyati ca | sa kālaṃ kṛtvā tasyaivāmitāyuṣastathāgatasya buddhakṣetre sukhāvatyāṃ lokadhātāvupapatsyate | tasmāttarhi śāriputra idamarthavaśaṃ saṃpaśyamāna eva vadāmi-satkṛtya kulaputreṇa vā kuladuhitrā vā tatra buddhakṣetre cittapraṇidhānaṃ kartavyam || 10 ||

tadyathāpi nāma śāriputra ahametarhi tāṃ parikīrtayāmi, evameva śāriputra pūrvasyāṃ diśi akṣobhyo nāma tathāgato merudhvajo nāma tathāgato mahāmerurnāma tathāgato meruprabhāso nāma tathāgato mañjudhvajo nāma tathāgataḥ | evaṃpramukhāḥ śāriputra pūrvasyāṃ diśi gaṅgānadīvālukopamā buddhā bhagavantaḥ svakasvakāni buddhakṣetrāṇi jihvendriyeṇa saṃchādayitvā nirveṭhanaṃ kurvanti | pratīyatha yūyamidamacintyaguṇaparikīrtanaṃ sarvabuddhaparigrahaṃ nāma dharmaparyāyam || 11 ||

evaṃ dakṣiṇasyāṃ diśi candrasūryapradīpo nāma tathāgato yaśaḥprabho nāma tathāgato mahārciḥskandho nāma tathāgato merupradīpo nāma tathāgato’nantavīryo nāma tathāgataḥ | evaṃpramukhāḥ śāriputra dakṣiṇasyāṃ diśi gaṅgānadīvālukopamā buddhā bhagavantaḥ svakasvakāni buddhakṣetrāṇi jihvendriyeṇa saṃchādayitvā nirveṭhanaṃ kurvanti | pratīyatha yūyamidamacintyaguṇaparikīrtanaṃ sarvabuddhaparigrahaṃ nāma dharmaparyāyam || 12 ||

evaṃ paścimāyāṃ diśi amitāyurnāma tathāgato’mitaskandho nāma tathāgato’mitadhvajo nāma tathāgato mahāprabho nāma tathāgato mahāratnaketurnāma tathāgataḥ śuddharaśmiprabho nāma tathāgataḥ | evaṃpramukhāḥ śāriputra paścimāyāṃ diśi gaṅgānadīvālukopamā buddhā bhagavantaḥ svakasvakāni buddhakṣetrāṇi jihvendriyeṇa saṃchādayitvā nirveṭhanaṃ kurvanti | pratīyatha yūyamidamacintyaguṇaparikīrtanaṃ sarvabuddhaparigrahaṃ nāma dharmaparyāyam || 13 ||

evamuttarāyāṃ diśi mahārciḥskandho nāma tathāgato vaiśvānaranirghoṣo nāma tathāgato dundubhisvaranirghoṣo nāma tathāgato duṣpradharṣo nāma tathāgataḥ ādityasaṃbhavo nāma tathāgato jaleniprabho nāma tathāgataḥ prabhākaro nāma tathāgataḥ | evaṃpramukhāḥ śāriputra uttarāyāṃ diśi gaṅgānadīvālukopamā buddhā bhagavantaḥ svakasvakāni buddhakṣetrāṇi jihvendriyeṇa saṃchādayitvā nirveṭhanaṃ kurvanti | pratīyatha yūyamidamacintyaguṇaparikīrtanaṃ sarvabuddhaparigrahaṃ nāma dharmaparyāyam || 14 ||

evamadhastāyāṃ diśi siṃho nāma tathāgato yaśo nāma tathāgato yaśaḥprabhāso nāma tathāgato dharmo nāma tathāgato dharmadharo nāma tathāgato dharmadhvajo nāma tathāgataḥ | evaṃpramukhāḥ śāriputra adhastāyāṃ diśi gaṅgānadīvālukopamā buddhā bhagavantaḥ svakasvakāni buddhakṣetrāṇi jihvendriyeṇa saṃchādayitvā nirveṭhanaṃ kurvanti | pratīyatha yūiyamidamacintyaguṇaparikīrtanaṃ sarvabuddhaparigrahaṃ nāma dharmaparyāyam || 15 ||

evamupariṣṭhāyāṃ diśi brahmaghoṣo nāma tathāgato nakṣatrarājo nāma tathāgata indraketudhvajarājo nāma tathāgato gandhottamo nāma tathāgato gandhaprabhāso nāma tathāgato mahārciskandho nāma tathāgato ratnakusumasaṃpuṣpitagātro nāma tathāgataḥ sālendrarājo nāma tathāgato ratnotpalaśrīrnāma tathāgataḥ sarvārthadarśī nāma tathāgataḥ sumerukalpo nāma tathāgataḥ | evaṃpramukhāḥ śāriputra upariṣṭhāyāṃ diśi gaṅgānadīvālukopamā buddhā bhagavantaḥ svakasvakāni buddhakṣetrāṇi jihvendriyeṇa saṃchādayitvā nirveṭhanaṃ kurvanti | pratīyatha yūyamidamacintyaguṇaparikīrtanaṃ sarvabuddhaparigrahaṃ nāma dharmaparyāyam || 16 ||

tatkiṃ manyase śāriputra kena kāraṇenāyaṃ dharmaparyāyaḥ sarvabuddhaparigraho nāmocyate ? ye kecicchāriputra kulaputra vā kuladuhitaro vā asya dharmaparyāyasya nāmadheyaṃ śroṣyanti, teṣāṃ va buddhānāṃ bhagavatāṃ nāmadheyaṃ dhārayiṣyanti, sarve te buddhaparigṛhītā bhaviṣyanti, avinivartanīyāśca bhaviṣyanti anuttarāyāṃ samyaksambodhau | tasmāttarhi śāriputra śraddadhādhvaṃ pratīyatha mā kāṅkṣayatha mama ca teṣāṃ ca buddhānāṃ bhagavatām | ye kecicchāriputra kulaputrā vā kuladuhitaro vā tasya bhagavato’mitāyuṣastathāgatasya buddhakṣetre cittapraṇidhānaṃ kariṣyanti, kṛtaṃ vā kurvanti vā, sarve te’vinivartanīyā bhaviṣyantyanuttarāyāṃ samyaksaṃbodhau | tatra ca buddhakṣetra upapatsyanti, upapannā vā upapadyanti vā | tasmāttarhi śāriputra śrāddhaiḥ kulaputraiḥ kuladuhitṛbhiśca tatra buddhakṣetre cittapraṇidhirutpādayitavyaḥ || 17 ||

tadyathāpi nāma śāriputra ahametarhi teṣāṃ buddhānāṃ bhagavatāmevamacintyaguṇān parikīrtayāmi, evameva śāriputra mamāpi te buddhā bhagavanta evamacintyaguṇān parikīrtayanti | suduṣkaraṃ bhagavatāṃ śākyamuninā śākyādhirājena kṛtam | sahāyāṃ lokadhātāvanuttarāṃ samyaksaṃbodhimabhisaṃbudhya sarvalokavipratyayanīyo dharmo deśitaḥ kalpakaṣāye sattvakaṣāye dṛṣṭikaṣāya āyuṣkaṣāye kleśakaṣāye || 18 ||

tanmamāpi śāriputra paramaduṣkaraṃ yanmayā sahāyāṃ lokadhātāvanuttarāṃ samyaksaṃbodhimabhisaṃbudhya sarvalokavipratyayanīyo dharmo deśitaḥ sattvakaṣāye dṛṣṭikaṣāye kleśakaṣāya āyuṣkaṣāye kalpakaṣāye || 19 ||

idamavocadbhagavānāttamanāḥ | āyuṣmān śāriputraste ca bhikṣavaste ca bodhisattvāḥ sadevamānuṣāsuragandharvaśca loko bhagavato bhāṣitamabhyanandan || 20 ||

sukhāvatīvyūho nāma mahāyānasūtram ||
(saṃkṣiptamātṛkā | )

https://www.youtube.com/watch?v=6_Ac5JY_niE
Technical Details

Text Version:
Romanized
Input Personnel:
DSBC Staff
Input Date: 2004
Proof Reader:
Miroj Shakya
Supplier:
Nagarjuna Institute of Exact Methods
Sponsor:
University of the West

Thái tử Tất Đạt Đa cầu đạo

20-Buddha-Venuvana

Một bát, cơm ngàn nhà
Thân cô, đi vạn dặm
Chỉ vì chuyện sinh tử
Giáo hóa độ xuân thu
Nam mô Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Lotus+LampLotus+LampLotus+Lamp

 

Ngũ Niệm Môn

Trích: Quê hương Cực Lạc,
Tác giả: Đại sư Tuyên Hóa
Việt dịch: Hòa thượng Thích Thiền Tâm

tuong-phat-adida-nhat-ban

” Vô Lượng Thọ Kinh Luận (*) nói: “Nếu tu ngũ niệm môn thành tựu, kết quả sẽ được vãng sanh về Cực Lạc, thấy Phật A Di Đà. Ngũ niệm môn là gì?

1. Lễ bái môn
2.Tán thán môn
3.Phát nguyện môn
4.Quán sát môn
5.Hồi hướng môn.

Lễ bái môn là thế nào? Nghĩa là dùng thân lễ Đức Phật A Di Đà, bày tỏ lòng cung kính, cầu Phật nhiếp thọ.

Tán thán môn là thế nào? Nghĩa là khen ngợi sắc thân, danh hiệu, ánh sáng, trí huệ của Đức Như Lai kia, muốn tu hành như thật cho được tương ưng.

Phát Nguyện môn là thế nào? Nghĩa là một lòng chuyên niệm vào nơi chánh định, nguyện sanh về Cực Lạc.

Quán sát môn là thế nào? Đây là dùng chánh niệm quán sát công đức trang nghiêm của cõi Cực Lạc, công đức trang nghiêm của Phật A Di Đà, và công đức trang nghiêm của chư Bồ Tát, và Thánh Chúng.

Hồi hướng môn là thế nào? Nghĩa là tâm từ bi không bỏ những chúng sanh khổ não, nguyện đem căn lành công đức của mình, hồi hướng cầu cho tất cả loài hữu tình đều được sanh về Cực Lạc…”

(*) Vô Lượng Thọ Kinh Luận do ngài Thiên Thân, cũng gọi là Thế Thân bồ tát trước tác. Bồ tát người xứ Thiên Trúc, khi mới xuất gia học theo pháp Tiểu Thừa, hủy báng kinh điển Đại Thừa. Sau ngài nhờ anh là Vô Trước nhiều phen chỉ dẫn, mới hối ngộ sự lỗi lầm, muốn tự cắt lưỡi. Vô Trước bồ tát bảo: “Xưa em dùng lưỡi hủy báng Đại Thừa, nay phải dùng lưỡi mà tán dương pháp ấy để chuộc tội. Việc sửa lỗi hãy còn chưa muộn, nếu cắt lưỡi đi, nào có ích gì?” Vâng lời anh, ngài Thiên Thân từ đó đem hết tâm tư, tạo ra hơn 500 bộ luận Đại Thừa. Trong ấy có luận Vãng Sanh, phát huy rõ ràng sự trang nghiêm lợi ích của cõi Tịnh độ. Người niệm Phật nên chú ý đến luận này.

Lời bàn:

Năm môn trên đều là cửa ngõ để sinh về Cực Lạc, trong đó đầy đủ cả hạnh Tự độ – Độ tha, Tự giác – Giác tha, cũng lại gồm chứa đủ cả tam học Giới – Định –  Tuệ:

Từ môn thứ nhất đến môn thứ tư là Tự lợi – Tự giác, môn thứ năm là Lợi tha – Giác tha.

Thân lễ bái Phật là thân lành, khẩu ngợi khen Phật là khẩu lành, tâm quán sát công đức của Phật, Thánh chúng và cõi nước là tâm lành, đó chính là ba nghiệp sáu căn đều lành thuộc về Giới.

Dứt mọi vọng niệm, trụ tâm trong danh hiệu Phật, dứt mọi loạn duyên trong lục đạo mà kết tịnh duyên với Phật đó là Định.

Bậc đại căn cơ niệm Phật ngay tại đời này đạt được cảnh giới như Bồ tát Đại Thế Chí dạy trong kinh Lăng Nghiêm “Đóng chặt lục căn, tịnh niệm kế tiếp, chẳng mượn phương tiện khác mà tự được tâm khai” hoặc dù căn tính thấp kém nhưng được vãng sanh Cực Lạc gặp Phật nghe pháp, tu học cùng hiền thánh chắc chắn chứng quả vị Bất thoái chuyển, tâm trí đại khai ngộ, cả hai trường hợp đó đều là Tuệ.

Nguyện cho tất cả hữu tình chúng sinh đều vãng sinh Cực Lạc. Nam mô A Di Đà Phật!

Xá lợi lão cư sĩ Hoàng Củng Thần

Hoang cung than lao cu si 黃拱辰老居士舍利

黃拱辰老居士舍利 1黃拱辰老居士舍利 2黃拱辰老居士舍利 3黃拱辰老居士舍利 5黃拱辰老居士舍利 4

Vô biên bể khổ thoát được rồi
Vô tận luân hồi vĩnh viễn thôi
Bảy tầng cây báu lung linh sắc
Chín phẩm đài sen tự tại ngồi!

Nam mô A Di Đà Phật!

 

 

Xá lợi đổi màu của lão cư sĩ Chu Chí Bằng

Trấn Giang Thánh Tự

Nếu ai từng đến thành phố Trấn Giang ơ Trung Quốc, ghé thăm ngôi cổ sát nghìn năm Trấn Giang Đại Thánh Tự sẽ được chiêm ngưỡng sự kỳ diệu hiếm thấy trong Phật giáo mà các chuyên gia khó lòng giải thích được. Đó là hai hạt xá lợi đặc biệt có khả năng biến đổi màu sắc trong số những viên xá lợi do lão cư sĩ Chu Chí Bằng để lại sau khi vãng sinh.

Hai hạt xá lợi nhỏ chừng hạt gạo, trong suốt như pha lê nhưng rất rắn chắc. Buổi sớm xá lợi màu trắng bạch, giữa trưa chuyển sang màu tím, chiều màu lam và qua nửa đêm hiện ra sắc màu lục đậm. Thật là việc kỳ lạ hy hữu làm người ta không thể không trầm trồ ca ngợi!

Chu Chí Bằng lão cư sĩ xá lợi.jpg

SAMSUNG DIGITAL CAMERA

SAMSUNG DIGITAL CAMERA

SAMSUNG DIGITAL CAMERA

SAMSUNG DIGITAL CAMERA

SAMSUNG DIGITAL CAMERA

SAMSUNG DIGITAL CAMERA

Nam mô A Di Đà Phật

 

Phật thuyết kinh quán vô lượng thọ_mới

Phật thuyết A Di Đà kinh

Khuyên phóng sanh

(Trích Sớ trùng tu ao phóng sanh chùa Cực Lạc ở Nam Tầm/Ấn Quang đại sư Thượng Hải Hộ quốc tức tai pháp hội)

nguyenthihop-phongsanh

Kiêng giết phóng sanh về mặt Sự thì nông cạn, dễ thấy; nhưng về mặt Lý lại sâu xa, khó hiểu rõ. Nếu chẳng hiểu rõ Lý, dù có làm chuyện này, trong tâm chắc chắn chẳng chí thành, thương xót thiết tha, phước điền lợi ích cũng do tâm lượng mà trở thành nhỏ nhoi, nông cạn. Nếu gặp phải kẻ vô tri ngăn trở, phỉ báng, [người phóng sanh] sẽ bị kẻ đó xoay chuyển, khiến cho một dạ thiện tâm vì đó bị tiêu diệt chẳng còn. Do vậy, chẳng ngại lắm lời giãi bày ý nghĩa, để những loài vật đều được gội từ ân, loài người đều được vun bồi nền phước, ngõ hầu khẩn thiết động đến lòng nhân sâu xa, diệt được sát báo cho ta lẫn người, cùng đều được về cõi thọ, cùng vui tuổi trời. Lại nguyện đem công đức này hồi hướng Tây Phương để vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, vượt thoát tam giới, làm đệ tử Phật Di Đà, làm bạn tốt trong hải chúng. May ra sẽ được người đọc chú ý vậy!

(Xem tiếp trang 2)

Khai thị của Ấn Quang đại sư: không nên tà dâm

Giới dâm: Âm – dương thu hút nhau, muôn vật nhờ đó mà sanh. Nam nữ lập gia đình là giềng mối lớn lao của con người. Sanh con đẻ cái, nuôi dạy nên người, trên liên quan đến phong hóa, dưới liên quan đến tiếp nối dòng dõi; cho nên chẳng cấm. Nếu chẳng phải với người vợ hay chồng chánh thức lại chung chạ bừa bãi, đấy là tà dâm. Như vậy là trái nghịch lẽ trời, rối loạn luân thường của con người, sống làm cầm thú đội mũ mặc áo, chết đọa tam đồ ác đạo ngàn vạn ức kiếp chẳng thể thoát khỏi. Nhưng con người do dâm dục sanh ra nên dâm tâm khó chế ngự nhất. Đức Như Lai dạy người tham dục nặng nề tu Bất Tịnh Quán, quán lâu ngày sẽ thấy sắc đâm chán. Lại nếu có thể tưởng hết thảy nữ nhân mình trông thấy đều là mẹ, con gái, chị, em, sanh tâm hiếu thuận, tâm cung kính thì ác niệm dâm dục không do đâu phát sanh được! Ðấy chính là đoạn trừ cội gốc của sanh tử luân hồi, là cơ sở, là bậc thềm để siêu phàm nhập thánh, hãy nên thường kiêng dè. Còn như vợ chồng ân ái với nhau vốn chẳng bị cấm đoán, nhưng cũng cần phải “tương kính như tân” (kính trọng nhau như khách), nhằm tiếp nối dòng dõi để thờ phụng tổ tiên, phải nên giữ chừng mực, chớ nên chỉ tham cầu khoái lạc đến nỗi chôn vùi thân mạng! Tuy là với người phối ngẫu của mình, hễ tham khoái lạc thì cũng là phạm giới! Chẳng qua tội ấy so ra nhẹ hơn [tội tà dâm] thôi! Vì thế, cần phải đặt nặng chuyện giới dâm.

Trích: Thượng Hải hộ quốc tức tai pháp ngữ

 

Mại dâm, mãi dâm và những ngộ nhận sai lầm

Nguồn: st và bổ sung

geisha

Mục lục

 

(Xem trang 2)

Phẩm hạnh của cư sĩ Ưu bà cấp đa

image
Thời Phật tại thế, Ở thành Ma-đồ-la (Mathurâ), có một người kĩ nữ, nhan sắc tuyệt trần, tên là Phệ-sa-phệ-đạt-đa (Vasa- vadattâ). Một hôm đứa thị tì đi mua phấn sáp ở nhà một người lái buôn trẻ tuổi đẹp trai ở gần đấy tên là Ưu-bà-cấp-đa (Upagupta), khi về nàng hỏi rằng: “Mi ưa chàng ấy lắm sao mà mỗi lần đi mua gì cứ đến đấy?” – Thị tì nói rằng: “Thưa cô, chàng Ưu-bà-cấp-đa người đẹp đẽ, tính nhu mì, lại dốc lòng tu đạo Phật”. – Nàng Phệ-sa-phệ-đạt-đa nghe nói thế, thấy động tình, sai thị tì đến bảo nhỏ chàng rằng: “Ý tôi muốn đến chơi với chàng, tôi sẵn lòng giao hoan với chàng”. Thị tì đến nói, chàng bảo về trả lời rằng: “Bây giờ chưa phải lúc gặp tôi”. – Nàng nghĩ rằng chàng sợ đi lại với nàng phải mất tiền chăng, lại sai thị tì đến báo lại rằng: “Chàng không phải mất đồng tiền nhỏ, em chỉ nguyện được giao hoan với chàng thôi”. – Nhưng Ưu- bà-cấp-đa vẫn trả lời rằng: “Thưa chị, bây giờ chưa phải lúc gặp tôi”. Cách đấy ít lâu, nàng Phệ-sa-phệ-đạt-đa muốn bán mình cho một gã phú thương, bèn giết người nhân ngãi cũ cho khỏi ghen. Tội ấy tiết lộ ra, vua Ma-đồ-la truyền đem nàng ra cắt chân, cắt tay, cắt tai, cắt mũi, rồi bắt ra ở ngoài bãi tha ma. – Chàng Ưu-bà-cấp-đa biết đầu đuôi chuyện ấy, nghĩ trong bụng rằng: “Khi nàng còn mĩ miều tráng lệ, thời kẻ dốc lòng tu đạo chẳng nên lại gần làm chi. Nhưng ngày nay nàng đã cùn cụt chân tay, khốn khổ thế này, lúc này thật là lúc ta nên đến thăm nàng”. – Chàng Ưu bà-cấp-đa bèn cùng đứa đầy tớ cầm dù che, đi từ từ ra bãi tha ma. Đứa thị tì của nàng Phệ-sa-phệ-đạt-đa từ khi nàng bị nạn vẫn không rời bỏ nàng, trông thấy chàng đến, hốt hoảng bảo chủ, nàng vội vàng thu các mảnh tay lại, lấy miếng vải khoác. Khi chàng đã đến nơi, nàng tủi thẹn mà nói rằng: “Thưa chàng, khi người thiếp thơm tho như  hoa sen, đầy những lụa là châu báu, đủ làm mê con mắt kẻ hữu tình thì chàng chẳng thèm nhìn đến. Ngày nay thân thiếp bị tàn, đẫm lầy trong đống bùn máu, không còn chi là cái nhan sắc, sự vui thú như xưa, chàng đến đây mà làm gì?” – Ưu-bà-cấp-đa nói lại rằng: “Thưa chị, trước kia tôi không đến với chị, là bụng tôi không có dục tình. Ngày nay tôi đến đây cho biết cái thảm trạng những sự khoái lạc của người đời”. – Nói xong rồi, chàng an ủi cho nàng khuây lòng, lại thuyết pháp cho nàng nghe. Sau nàng dốc lòng tu đạo, cũng bớt nỗi buồn…Dâm dục là sự mê hoặc một khi nổi lên sẽ khiến chúng sinh bị mê mờ dễ phạm vào các ác pháp và chịu khổ báo khôn cùng.

KINH TĂNG NHẤT A HÀM-PHẨM GIỚI DÂM

Việt dịch: Hòa thượng Thích Thanh Từ
Hiệu đính: Hòa thượng Thích Thiện Siêu

ST Phat Thich Ca 34

XIV – Phẩm ngũ giới


Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

  • Ở trong chúng này, Ta không thấy một pháp nào đã thực hành rồi, đã thực hành nhiều rồi thành hạnh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; nếu sanh trong loài Người ở nhà gian dâm không có tịnh hạnh, bị người chê bai, thường bị phỉ báng. Thế nào là một pháp? Ðó là tà dâm.

Phật bảo các Tỳ-kheo:

  • Nếu có người dâm dật vô độ, thích xâm phạm vợ người, liền đọa trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nếu sanh trong loài Người, khuê môn dâm loạn. Thế nên các Tỳ-kheo thường nên chính ý, chớ khởi nghĩ dâm, cẩn thận chớ dâm người khác. Như thế, các Tỳ-kheo, hãy học điều này!

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

53  5416 - Địa ngục ôm cột


Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

  • Ở trong chúng này, Ta không thấy một pháp nào đã thực hành, thực hành nhiều rồi, hưởng phước trong loài Người, hưởng phước trên Trời, chứng được Niết-bàn, như là không tà dâm, thân thể thơm sạch cũng không có ý tưởng tà vạy.

Phật bảo các Tỳ-kheo:

  • Nếu có người tinh khiết không dâm liền hưởng phước trong loài Người, trên Trời. Thế nên các Tỳ-kheo, chớ hành tà dâm làm hưng khởi ý dâm. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

A DI ĐÀ PHẬT

Thơ răn trừ sắc dục

ad80b12cd9

Từ Đông – Á, chí Âu – Tây
Lụy về Sắc-dục mấy ai sửa mình
Sắc có độ giữ gìn nòi giống
Vô độ thì như cọng tre khô
Một cơn gió nhẹ thổi vô
Rụng rời gãy khớp, ô-hô rồi đời!

Còn niên thiếu chơi bời sái nát
Lời khuyên răn bỏ gác ngoài tai
Bình sinh, trụy-lạc đêm ngày
Dầu hao, tim lụn (1) nào ai kể gì

Khi ương yếu, tứ chi rũ riệt
Có đau rồi mới biết sức mình
Đa dâm, đa dục, đa tình
Hao thần, hao khí, hao tinh sức mòn.

Khi già yếu, lưng còm gối lỏng
Tai lùng-bùng, mắt động ghèn to
Hai tay ôm ngực mà ho
Giận mình lúc trẻ không lo tuổi già

Ấy chẳng kể sương sa bão táp
Mải ham vui, vướng đạp bùn nhơ
Phong tình (2) nọc độc bất ngờ
Về mình mang lấy báo cô cả đời

Vương bịnh nặng, hại nòi hại giống
Gặp nó rồi, đời sống còn chi
Thương thay, những bậc tu-mi (3)
Ăn chơi hư hỏng  làm gì nên thân

Người ba báu, TINH, THẦN với KHÍ (4)
Thường ăn chơi, xài phí vô chừng
Làm cho báu ấy tiêu lần
Đời người như sợi chỉ mành treo chuông

Muốn trường thọ, xa đường hoa nguyệt
Tìm nẻo chân, chí quyết tu hành
Tu là tật xấu bỏ dần
Tránh xa kẻ dữ, nên gần Hiền-nhân!

Sắc dục hại nghiêng thành ngả nước
Khiến anh hùng mất cả tiếng thanh
Thương triều nước mất, tan thành
Bởi mê Đát Kỷ, Trụ đành chôn thây

Người hiền trí thường nên quán xét:
Sắc vốn là độc kiếm tránh xa
Sắc như xiềng xích của ma
Sắc như hố lửa, sắc là hầm chông

Những độc hại đứng đầu là sắc
Đoạt được thì điên đảo tâm mê
Nếu mà chẳng được thỏa thuê
Nội tâm bấn loạn, si mê, hận thù

Sắc nữ tú khác chi yêu quái
Sắc nam thanh tựa quỉ lộng hành
Ai mà tịnh hạnh được thành
Chẳng mê sắc dục sớm thành Phật, Tiên.

(Sưu tầm,phóng tác)


Chú thích:

(1) Dầu hao, tim lụn là ngọn đèn mờ chập chờn sắp tắt. Con người ví như cái đèn, nếu thường dâm dục khiến cho sinh khí cạn kiệt, tinh thần mờ ám không còn sáng suốt, sức khỏe suy yếu, thọ mạng bị chiết giảm.

(2) Phong tình: là các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục như: lậu, giang mai, hiv, vvv…

(3) Tu mi: là lông mày và râu, chỉ nam nhân

(4) Tinh, khí, thần: Ba báu vật của  con người quyết định sức khỏe, sự minh mẫn và tuổi thọ. Nền Đông y, dưỡng sinh, võ thuật Đông phương và các đạo gia luôn chú trọng gìn giữ và trưởng dưỡng ba báu vật này, coi đó là tiên đan trong nội thể con người.

Yếu quyết dưỡng sinh Đông phương thu gọn trong 14 chữ: Bế tinh (gìn giữ tinh lực và tinh thần không để hao mòn thất thoát) – Dưỡng khí (trưởng dưỡng khí lực và tính khí) – Tồn thần ( bảo tồn thần, không để mệt mỏi hao tán ) – Thanh tâm (tâm thanh tịnh trong sạch) – Quả dục (ít ham muốn) – Thủ chân ( giữ mình chân chính, giống chánh niệm của nhà Phật, chỉ ư chí thiện cùa nhà Nho) – Luyện hình (tập luyện thân thể)

Tiên nhân Bát Kiếp khởi dục mất thần thông

PHẬT NÓI KINH SINH

Hán dịch: Đời Tây Tấn, Tam tạng Pháp sư Trúc Pháp Hộ
Việt dịch: Linh-Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

2-1396662934_660x0

QUYỂN V
Kinh 52: Đức Phật Thuyết Giảng về Kinh Bát Kiếp Tiên Nhân

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa tại núi Linh thứu thuộc thành Vương xá cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị. Bấy giờ, ông Trưởng giả Cẩm Tận Thủ đến chỗ Tôn giả Xá- lợi-phất đọc tụng kinh pháp. Khi trở về nhà, ông chán cảnh sống ấy nên xuống tóc xuất gia làm Sa-môn, nhưng chưa chứng được quả A- la-hán, dù mọi việc ông làm đều đầy đủ. Các vị Tỳ-kheo đến gặp Đức Thê Tôn, thưa:

-Nay chúng con xét thấy ông Cẩm Tận Thủ luôn thể hiện sự cung kính trong việc nghe thuyết giảng giáo pháp, giới luật rồi sau đấy thì xuất gia làm Sa-môn, là hàng trí nhiều, biết rộng, giảng giải không biết bao nhiêu là kinh pháp, lời lời lưu loát, câu cú tế nhị nhưng tâm thiền định dấy động nên ông trở lại nhà. Thưa Thế Tôn, như vậy nên ông chưa chứng được quả A-la-hán, không căn cứ, không gắn bó với giáo pháp, nên ông chưa thành tựu được sự tu tập để thấy rõ nẻo sinh tử luân hồi,không được giải thoát, như Đức Phật đã dạy: Đức Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác luôn đạt được mọi sự an ổn.

Đức Phật bảo các vị Tỳ-kheo:

-Việc ấy có gì đâu là lạ! Ta đã thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh chân, là Bậc Tối Chánh Giác, còn ôngCẩm Tận Thủ thì phải nhờ Tôn giả Xá-lợi-phất chỉ dạy hóa độ cho mới vượt khỏi bốn nẻo khổ hoạn. Ta ở nơi đời khác đã từng đem thân phàm phu giảng nói kinh pháp rộng khắp, hóa độ mọi người thoát khỏi lao khổ, đó mới là điều hết sức đặc biệt.

Đức Phật kể tiếp:

-Thuở quá khứ xa xưa, có một vị Tiên nhân tên là Bát Kiếp, tu chứng được năm thứ thần thông. Bấy giờ, quốc vương đem lòng yêu kính hết mực đối với vị Tiên nhân Bát Kiếp. Tiên nhân hay dùng thần thông bay tới cung vua, được quốc vương cúng dường đầy đủ, ban cho tất cả, luôn được ngồi bên vua, ngày nào cũng vậy. Nhà vua cung phụng vị Tiên nhân này đủ điều, rải tóc bên đường cho Tiên nhân đi qua, tự tay bưng dâng rót mời hàng trăm món ăn uống, trải qua nhiều năm, việc cúng dường ấy thật là vô hạn. Lúc đó, nhà vua có một việc nhỏ phải đi xa. Nhà vua có một người con gái đoan chánh, xinh đẹp, trên đời ít có, vua thương yêu quý trọng vô cùng. Nàng chưa có chồng, nhà vua bảo con gái: “Con có thấy ta không? Ta cúng dường vị Tiên nhân, luôn phụng sự ân cần, chẳng dám trái ý”.

Người con gái thưa:

-Vâng, con đã thấy.

Nhà vua bảo con:

-Ta có việc phải đi xa, con ở hoàng cung lo chuyện cúng dường bậc ấy, cũng phải theo đúng những việc như ta đấy, chớ nên làm mất lòng!

Khi đó, vị Tiên nhân từ trên không trung bay xuống đi đến cung vua, người con gái thấy vị Tiên nhân tới liền đưa tay cao lên chào và mời ngồi vào tòa ngồi. Ông vừa chạm tay, cảm thấy thân thể người con gái mềm mại, liền khởi ý dục, ý ấy vừa phát khởi thì lửa ái dục bừng bừng nên bị mất thần túc, không thể bay đi được. Ông bèn tư duy, thiền định rồi kinh hành, mong muốn phục hồi thần túc nhưng không thể được. Lúc đó, vị Tiên nhân thấy con gái của quốc vương, ý tham dục dấy lên, không thể kiềm chế, ông liền đi bộ ra khỏi cung. Việc này lan truyền khắp nơi, không ai là không nghe biết, do đó vô số người tụ tập lại xem. Nhà vua thực hiện các công việc đã xong, hay được vị Tiên nhân đã không còn tâm vô dục mà rớt vào trong vòng ân ái nên mất cả thần túc, không thể bay đi được.

Vào lúc đêm tối, nhà vua một mình tìm đến gặp vị Tiên nhân, cúi đầu làm lễ và đọc bài kệ tụng:

Ta nghe Đại Phạm chí
Tham dục đều chết mau
Làm theo ai dạy bảo
Nhiễm sắc dục do đâu.

Tiên nhân Bát Kiếp dùng kệ đáp:

Ta thật với đại vương
Như đã nghe lời Thánh
Tà bậy nên lạc đường
Lời ta ngài xa lánh.

Nhà vua dùng kệ hỏi:

Có tuệ lực không xét
Và nghĩ điều dữ lành
Giả sử lòng phất dục
Không thể lại tịnh thanh.

Vị Bát Kiếp Tiên nhân lại dùng kệ đáp:

Ái dục mất nghĩa lợi
Lửa dâm nung cháy lòng
Hôm nay nghe vua nói
Ái dục dứt cho xong.

Khi được quốc vương nêu bày chỉ dẫn, vị Tiên nhân cảm thấy xấu hổ, lòng nghiêm khắc tự trách, ngày đêm tinh tấn, dốc sức tu dưỡng, chẳng bao lâu đạt được thần thông trở lại.

Đức Phật bảo cho các Tỳ-kheo biết:

-Vị Tiên nhân Bát Kiếp lúc đó nay là Tôn giả Xá-lợi-phất. Còn vị quốc vương ấy là bản thân Ta.

Đức Phật đã thuyết giảng như vậy, không ai là không vui mừng lãnh hội.

Quả Ác của tà dâm và quả thiện của đoan chính

Đức  Ban su Phat Thich Mau Ni The Ton Nhu Lai

Trong Phật giáo ghi nhận khổ đau do tham ái, chấp thủ, gây ra, bởi vì chúng là một trong ba độc tố rất nguy hiểm và có thể làm hư hỏng, mất đạo đức và giết chết tâm linh của con người không chỉ trong hiện kiếp mà còn xuyên qua những kiếp trong tương lai. Cho nên, vấn đề ở đây là phải dập tắt khổ đau của từng cá nhân. Trong đó, tham ái là cái mốc quan trọng nhất và nó được sai khiến bởi bàn tay của vô minh.

Trong ngũ giới của tại gia cư sĩ, Đức Thế Tôn chỉ chế giới tà dâm. Nghĩa là không chung sống với người không phải là vợ hay là chồng của mình. Ngay cả vợ hay chồng của chính mình nhưng giao tiếp tình dục không đúng lúc, không đúng chỗ và không chừng mực, và không hợp thời thì cũng bị liệt kê vào tội tà dâm. Nói tóm lại, những sự quan hệ nam, nữ không được luật pháp và luật tục thừa nhận đều được xem như là tà dâm. Vi tế hơn, chúng ta không nên đắm sắc, nghĩ ngợi bất chính, chơi bời lả lơi. Đây là điều kiện để đảm bảo hạnh phúc gia đình, an toàn, và ổn định xã hội.

Không có gì bất hạnh hơn khi phải sống trong một gia đình có sự quan hệ bất chánh. Những hành vi bất chánh giữa mối quan hệ của một trong hai người bạn đời sẽ đưa đến sự cãi vã, ghen tuông, đánh đập, xô ẩu; làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình; dẫn đến sự ly hôn; làm cho con cái sống được với mẹ thì mất tình thương của cha, được sống với cha thì mất tình thương của mẹ. Hơn thế nữa, con cái sẽ dễ dàng đi đến những bê tha, thiếu sự giáo dục của người cha hoặc của người mẹ rồi sa đọa vào các tệ nạn xã hội. Bên cạnh đó, bà con không đoái hoài; làng xóm chê trách, bạn bè xa lánh, thanh danh hoen ố, phẩm hạnh lu mờ…

Đức Thế Tôn khuyên chúng ta không nên tà dâm là tôn trọng sự công bằng và hạnh phúc. Mọi người ai cũng muốn có một gia đình đầm ấm, yên vui. Nếu ai cũng giữ được giới này thì xã hội sẽ không có người phá hoại gia cang, làm nhục nhã tông môn, không đưa con người vào đường dâm loạn, bê tha. Như chúng ta thấy trong thực tế, không có sự thù oán nào mãnh liệt bằng sự thù oán do sự lừa dối hay phụ rẫy do tình ái gây ra. Các cuộc án mạng xảy ra hàng ngày hầu như là do nhiều phạm phải khác nhau, thế nhưng phần lớn là kết quả của sự tà dâm. Cho nên, đối với các cư sĩ tại gia, Đức Thế Tôn đã khéo léo dạy bảo một lối sống gia đình hạnh phúc, êm ấm. Trong Pháp cú kinh Đức thế tôn dạy như sau:

“Tà dâm, tà vạy vợ người
Bốn điều bất hạnh
đến thời phải vương:
Một chịu họa hại tai ương
Hai là khó ngủ
dạ thường lo âu
Ba, đời phỉ nhổ ngập đầu
Bốn đọa địa ngục,
đâm xâu, cột đùm!” (Kinh Lời Vàng, câu 309).

Tội đầy, phải vác, phải bưng
Bất hạnh chạy đuổi,
còng lưng mà bò!
Khoái lạc mảnh tợ đường tơ
Lại hoảng, lại sợ
vui so thấm gì!
Luật vua hình trọng kéo đi!
Gặt quả khốc liệt
dính chi vợ người!”(Kinh Lời Vàng, câu 309 & 310).


Mẩu chuyện liên quan đến hai Pháp cú trên:

Câu chuyện về anh chàng Khemaka, con trai của người đàn ông giàu có dưới thời Đức Thế Tôn còn tại thế.

Trong khi trú tại Kỳ Viên tự, Đức Thế Tôn thuyết giảng hai Pháp cú trên, liên quan đến anh chàng thanh niên Khemaka , con trai của người đàn ông giàu có. Khemaka cũng là người cháu trai của ông Cấp Cô Độc nổi tiếng thời bấy giờ.

Khemaka vốn là một chàng thanh niên nổi tiếng giàu có, vả lại có vóc dáng khôi ngô tuấn tú, biết bao nhiêu người thiếu nữ say đắm vì sắc tướng của chàng. Thế nhưng, Khemaka đã phạm tội tà dâm không có sự ăn năn hối hận. Những người đồ đệ của nhà vua đã bắt được chàng ba lần về chuyện lang chạ tình dục với những cô thiếu nữ và đã dẫn chàng đến gặp Đức vua. Nhưng vua Ba Tư Nặc đã không có một hình phạt nào đối với chàng, bởi vì chàng là cháu của ông Cấp-Cô-Độc. Vì vậy, chính ông Cấp-Cô-Độc đã đích thân dẫn cháu của mình đến hầu Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn khuyên chàng Khemaka về những hành động đồi bại chàng đã làm và những hậu quả nghiêm trọng mà chàng phải chịu nhận trong hiện tại cũng như tương lai.

Sau khi Đức Thế Tôn thuyết pháp xong chàng Khemaka chứng đắc Tu-đà-hoàn Quả.


Riêng đối với hàng xuất gia, Đức Thế Tôn dạy nên đoạn tuyệt dâm dục. Vì dâm dục là nguyên nhân đưa đến sự đọa lạc, khổ đau, và luân hồi trong sanh tử. Tham ái càng nặng thì trói buộc càng chặt, đau khổ do đó mà tăng trưởng. Động cơ của tham ái là si, tựa vào gốc si mê, ích kỷ để yêu thương. Do đó, ái chỉ làm cho mình và người đau khổ không chỉ trong hiện kiếp mà nó còn trầm luân sinh tử trong vòng luân hồi bất tận. Nếu sự yêu thương bị ngăn chặn hoặc bị từ chối thì yêu thương sẽ biến thành oán thù. Nếu yêu thương được thỏa mãn thì càng mê đắm, mù quáng. Mục đích giáo lý của đạo Phật là có khuynh hướng đưa tất cả chúng sanh và nhất là con người thoát ra khỏi khổ đau; mà nguyên nhân chính của sự khổ đau ấy là ái dục. Vì vậy, đạo Phật dạy con người nên xa lìa ái dục càng sớm càng tốt và hằng tán dương những người đã,đang và sẽ có khuynh hướng xa lìa ái dục.


HẬU QUẢ CỦA TÀ DÂM

Bất cứ ai hễ phạm giới tà dâm sau khi chết sẽ tái sinh vào bốn khổ cảnh (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và A-tu-la). Ngay cả khi người ấy được thoát khỏi những khổ cảnh ấy và tái sinh trong cảnh giới loài người, người ấy phải gánh lấy những hậu quả như sau:

  1. Bị mọi người ghê tởm, nhàm chán, và không muốn quan hệ.
  2. Có rất nhiều kẻ thù.
  3. Thiếu hụt về vấn đề của cải và sự thịnh vượng.
  4. Bị thiếu thốn hạnh phúc.
  5. Bị tái sanh làm thân nữ.
  6. Bị tái sinh làm gái điếm.
  7. Bị tái sinh trong dòng dõi thấp kém.
  8. Phải chạm trán với những sự sỉ nhục, lăng mạ của thế gian.
  9. Thân thể bị méo mó, không đủ lục căn.
  10. Bị những người thân yêu xa lìa.
  11. Bị mất của cải, tài sản.

Ngược lại, nếu người mà kiêng cử tà hạnh sẽ hưởng được những điều ích lợi trái ngược với những hậu quả ở trên. (theo The Teachings of the Buddha, tr.142 & 143).


10 QUẢ BÁO ÁC CỦA TÀ DÂM

Dâm dục là mối họa của thế gian, làm đảo lộn cương thường – luân lý, bại hoại gia đạo, rối loạn thân tâm. Người tà dâm gặp phải 10 điều nguy hại sau:

1 – Thường bị chồng/vợ rình bắt, đánh đập đau đớn, gia đình không hòa thuận.
2- Pháp thiện mất hết, pháp bất thiện tăng trưởng
3- Nguy hại đến thân thể.
4- Không kiểm soát được vợ/chồng, không giữ được của cải.
5- Thường bị mọi người nghi ngờ, họ hàng thân thuộc không tin tưởng.
6- Gieo những nghiệp xấu như thế.
7- Gia đình không trinh khiết.
8- Sau khi mạng chung rơi vào địa ngục.
9- Nếu được làm người nữ thì chẳng phải một chủ (phải hầu hạ nhiều người, làm lẽ mọn tôi tớ hay nghề nghiệp nhơ nhớp).
10- Nếu được làm người nam thì rong ruổi tà dâm, tự đánh mất vợ mình.

(trích kinh Xuất gia duyên, Hán dịch: tam tạng pháp sư An Thế Cao, Việt dịch: tỳ kheo ni Thích Nguyên Nhã)


04 THIỆN QUẢ CỦA HẠNH ĐOAN CHÍNH

Người phẩm hạnh đoan chính thường khỏe mạnh,  được hưởng nhiều phúc đức, dễ tu tập thành tựu các môn học, ở đời được kính trọng. Trong kinh Thập thiện nghiệp đạo, Đức Phật dạy:

” Lại nữa Long-vương! Nếu xa lìa Tà-hạnh, thời được bốn pháp, kẻ trí ngợi khen. Những gì là bốn?

1 – Pháp căn điều thuận;
2- Xa lìa rộn ràng;
3- Được đời khen ngợi;
4- Vợ không ai xâm phạm (được gia quyến trinh khiết, không kẻ nào có thể phá hoại)

Ấy là bốn công đức về chánh-hạnh. Nếu hồi hướng đạo Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác, sau thành Phật, được trượng-phu ẩn-mật-tàng tướng”

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam mô Từ phụ A Di Đà Phật!

 

KINH BỒ TÁT QUỞ TRÁCH SẮC DỤC

BỒ TÁT HA SẮC DỤC PHÁP KINH

Hán dịch: Đời Hậu Tần, tam tạng Cưu-ma-la-thập dịch
Việt dịch: dựa theo bản dịch của hòa thượng Thích Thiện Giới

Thích Ca Mâu Ni Phật  Như Lai Thế Tôn

Nữ sắc là gông cùm, xiềng xích của thế gian, phàm phu tham luyến sắc, bị trói không tự thoát.

Nữ sắc là tai họa, rất lớn của thế gian,  phàm phu bị vây khốn, đến chết không thể thoát.

Nữ sắc là tai họa, suy hao của thế gian,  phàm phu nếu dính mắc, tai ách tụ tập thân.

Hành giả từ bỏ dục, nếu lại nhớ sắc tình, cũng như từ địa ngục, thoát ra lại nhảy vào, như người điên đã tỉnh, lại muốn trở lại cuồng, bệnh vừa được chữa lành, lại mong mình phát bệnh.

Người trí thấy thương xót, biết kẻ ấy cuồng si, không bao lâu mất mạng.

Phàm phu coi trọng sắc, suốt đời chạy đuổi theo, cam tâm làm nô lệ, vì thế mà khổ đau.

Cho dù thân bị chém, từng mảnh thịt nát nhừ, cho dù trúng tên nhọn, liên tiếp cắm qua thân, vì sắc cam tâm nhận, chẳng cho là nguy tai, giống cuồng nhân thích cuồng, không cho cuồng là họa.

Hành giả đã trừ bỏ, kiên quyết chớ hồi tâm, phá bỏ gông ái dục, chặt đứt xích sắc tình, nhàm chán căn bệnh cuồng, xa lìa nguồn tai họa. Thân tâm được an lạc, tự tại khỏi lao tù, được vĩnh viễn an vui, không còn lo hoạn nạn.

Tiếng nữ nhân như mật, tâm lại độc làm sao, như vực nước lặng trong, thuồng luồng rình dưới đáy, như hang báu núi vàng, sư tử thu mình nấp. Phải biết rất nguy hiểm, nhất quyết chẳng được gần.

Gia đình không hòa thuận, thường lỗi vợ chẳng hiền, dòng họ bại gia phong, lỗi thường do người nữ.

Người nữ tựa giặc si, thường diệt đi trí sáng, như thợ săn giăng bẫy, thú nào thoát được thân, như lưới bủa trên không, chim bay vào chịu bắt, như lưới giăng dưới nước, cá vào bị tróc vây, như hầm sâu hiểm thay, người mù rơi khó thoát, như đống lửa nóng rát, thiêu thân cứ bay vào.

Nữ sắc nguy hiểm thế, người trí phải tránh xa, nên chán ghét nhàm lìa, đừng để cho mê hoặc.

ĐỜI NÀY PHẢI QUYẾT TÂM VÃNG SANH MỌI THỨ PHẢI BUÔNG XẢ

Nhân gian Phật Đà

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Ngăn cơn sóng dâm dục

Tác giả: Chu An Sỹ tiên sinh.

 

 

 

Ngăn lòng tà dâm

Nguồn: Phật giáo Hòa hảo

“Ác Tà-Dâm thứ năm càng tệ,
Chúa hôn-mê chiếm-đoạt thê thần.
Làm đảo huyền tất cả quốc-dân,
Tôi bất chánh hoàng-cung dâm-loạn.
Tội lỗi ấy diễn nhiều thảm trạng,
Từ xưa nay trời đất đâu dung.
Giàu của nhiều dâm hiếp bần-cùng,
Quan lấn thế dâm-ô dân khó.
Trai liều-lĩnh điều nầy nên bỏ,
Đừng phá trinh hại tiết nữ nhơn.
Gái lẳng-lơ tiếng quyển lời đờn,
Hoa có chủ đèo-bồng tình mới.
Cất tiếng gọi nữ nam ơi hỡi,
Bỏ những điều điếm-nhục tông-môn.
Đấng nam-nhi học lấy điều khôn,
Lòng trung-hiếu gìn theo đạo-lý.
Hàng phụ-nữ gương xưa nối chí,
Những mẹ hiền dâu thảo roi-truyền.
Niệm Phật mà gây lấy thiện duyên,
Cho đẹp mặt Tổ-tiên nòi giống.
Thờ Phật-Đạo tỉnh cơn ác mộng,
Thoát mê-đồ thường phóng quang-minh”

Điểm đến của nghiệp tà dâm

Tà dâm – chính dâm – tội lỗi

 

Tâm hiếu sanh

Bảo hộ sinh mạng

Quý trọng sinh mạng chúng sinh

Ếch niệm Phật trả ơn

Phóng sinh được bồ tát Quan Thế Âm tiếp dẫn

Thiên long hộ pháp pháp hộ phóng sinh

Tiếng kêu của chú trâu già

Tà dâm

Nguồn: Phật giáo Hòa Hảo

Xá lợi hoa sen tám cánh của sư ông Niệm Phật _ Bình Dương

Tiếp theo bài:
https://phapmonniemphat.wordpress.com/2013/07/18/hoa-thuong-thich-minh-duc-niem-phat-vang-sanh-nam-1985-sau-26-nam-di-cot-van-nguyen-ven/

Câu chuyện vãng sanh của bé Hoa Minh

Tiếp theo bài:

https://wordpress.com/post/phapmonniemphat.wordpress.com/1602